Thứ Năm, ngày 21 tháng 1 năm 2016

ĐỨC GIÁO HOÀNG CÓ CHỦ HÒA KHÔNG?


Chiến tranh nhân danh Chúa?

Đức Giáo hoàng có chủ hòa không? Không đơn giản như thế…

Trong khuôn khổ của chủ nghĩa khủng bố, Đức Phanxicô tuyên bố nếu cần thì phải bắt người đi tấn công bất chính. Khác với các bài diễn văn của các vị tiền nhiệm của ngài ở thế kỷ 20, bài diễn văn của ngài là một suy tư về chiến tranh và về hòa bình.


“Năm vừa qua, từ đầu năm đến cuối năm là một năm đánh dấu bởi các cuộc chiến tranh và các hành động khủng bố, tạo nên không biết bao nhiêu đau khổ trên nhiều vùng đất thế giới, đến mức mà với tính chất của nó, có thể gọi đây là cuộc chiến tranh thứ ba từng phần”, Đức Phanxicô báo động trong bài diễn văn Ngày Thế giới Hòa bình 1 tháng 1-2016. Một chủ đề thân thiết của ngài, một chủ đề mà mấy tháng nay ngài không ngừng lên tiếng ở Rôma cũng như trong các chuyến đi của mình. Dù vậy, Đức Phanxicô không chỉ có đơn giản một bài diễn văn chủ hòa. Ngày 10 tháng 8-2014, ngài xin Liên Hiệp Quốc “làm mọi cách” để chấm dứt các hành vi bạo lực chống tín hữu kitô và các cộng đoàn thiểu số ở Irak. Cũng năm 2014, ngày 18 tháng 8, trong cuộc họp báo trên chuyến bay từ Nam Hàn về Rôma, ngài tuyên bố một câu mà sau đó đã gây nhiều tiếng vang: “Trong những trường hợp này, khi có cuộc tấn công bất chính, tôi chỉ có thể nói, bắt người tấn công bất chính là chuyện đúng lý. Tôi nhấn mạnh đến động từ “bắt” ở đây. Tôi không nói dội bom, tôi không nói phải gây chiến tranh, tôi nói là phải bắt. Các phương tiện dùng để ngăn chặn, để bắt thì cần phải được cân nhắc.”

Đức Phanxicô có bỏ vị thế của Đức Phaolô VI khi ngài lên tiếng “Không bao giờ được có chiến tranh nữa” không? Sau triều Giáo hoàng Piô XII và sau Công đồng Vatican II, thế giới đã hiểu bom nguyên tử, bom sinh hóa đã giết hại hàng loạt các thành phố, các đời sống con người (Hiến chế về Mục vụ Giáo hội trong Thế giới Ngày nay, Gaudium et spes, số 80), Giáo hội không chấp nhận dùng sức mạnh để tái lập công chính nhưng cổ vũ cho việc xây dựng hòa bình. Không một cuộc chiến tranh nào được cho phép nhân danh quyền bảo vệ chính đáng. Theo đường hướng của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XV, được bầu vào năm 1914 thì chiến tranh luôn là chuyện “điên cuồng”, một “tai ương vô ích” hoặc theo như chữ của Đức Gioan-Phaolô II dùng, chiến tranh là cuộc “phiêu lưu không có đường lui”. Dù vậy, điều này lại đi ngược lý thuyết “chiến tranh chính đáng,” với đòi hỏi của các tiêu chuẩn làm vô hiệu hóa khả năng dùng đến vũ lực trong trường hợp các cuộc chiến tranh hiện đại.

Khi tuyên bố nếu cần phải bắt tên tấn công trong trường hợp khủng bố, Đức Giáo hoàng muốn có một sự thay đổi về bản chất chiến tranh. Ngài ở trong truyền thống xưa của Giáo hội đối với “chiến tranh công chính”, dùng đến chiến tranh như biện pháp cuối cùng phải cần đến vũ lực, khi chủ nghĩa chủ hòa tuyệt đối sẽ là phủ nhận công chính và là dấu hiệu của bạo lực ngay trong chính cơ cấu.

Như các vị tiền nhiệm của mình, ngài ưu tiên về mặt ngoại giao và giữ hợp pháp về mặt công chính. Cũng như họ, suy tư của ngài về chiến tranh trước hết là suy tư dựa trên hòa bình, được xây dựng trên chiều kích thiêng liêng và ngôn sứ: “Đi sâu hơn, Thánh Phaolô nói, hòa bình là ơn ban của Chúa vì hòa bình là hoa trái của sự giải hòa với chính mình, ngài tuyên bố ở Sarajevo. Con người trở nên nghệ nhân của hòa bình nếu con người giải hòa với Chúa.”

Trên tiến trình giải hòa này, phần khó nhất là phần Chúa Kitô xin chúng ta yêu kẻ thù của mình. “Khi cuộc sống của bạn bị đe dọa trong xương trong thịt, như chúng tôi thường xuyên bị đe dọa bởi các hành động khủng bố và chiến tranh, thì bạn không phải chỉ sống trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng bạn cảm thấy đe dọa đè nặng trên đầu, cha xứ Émile Shoufani tuyên bố vào cuối năm 2014 khi cha nhận giải Bằng hữu Do Thái-kitô ở Pháp, cha được mệnh danh là ‘cha xứ Nadarét’. Chính lúc đó là lúc bạn phải tin rằng người khác không đe dọa bạn, rằng bạn có thể sống với họ và nói chuyện với họ.” Một tiến trình ở trọng tâm Năm Thánh Lòng Thương Xót.

Một cuộc chiến tranh công chính

Giáo huấn Giáo hội công giáo có một danh sách các đòi hỏi chính đáng để dùng sức mạnh một cách hợp pháp.

1 Sự thiệt hại gây ra do người tấn công quốc gia hay các cộng đoàn các quốc gia là lâu dài, trầm trọng và cụ thể.

2 Tất cả các phương tiện khác để chấm dứt cuộc tấn công đều tỏ ra không hiệu quả.

3 Có một số các điều kiện nghiêm túc để thành công.

4 Việc dùng vũ khí không kéo theo những thiệt hại và mất ổn định nặng nề hơn sự dữ cần phải loại bỏ

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch (phanxico.vn)

Thứ Ba, ngày 22 tháng 12 năm 2015

SUY NIỆM LỄ GIÁNG SINH


Jos. Vinc. Ngọc Biển

Cứ mỗi dịp Giáng Sinh về, người ta thường tặng cho nhau những cánh thiệp, trao cho nhau những món quà và viết những lời cầu chúc thật ý nghĩa kèm theo những cánh thiệp và những món quà đó, tất cả chỉ mong sao người nhận quà gặp được nhiều niềm vui, bình an, hạnh phúc và thành đạt.

Đêm nay, chúng ta tụ họp nơi đây để mừng Đêm Thánh, Đêm kỷ niệm Con Thiên Chúa Giáng Sinh và cư ngụ giữa chúng ta trong thân phận của một con người bình thường (x. Ga 1, 14; Dt 4, 15). Đây là món quà cao quý mà Thiên Chúa Cha đã trao tặng cho nhân loại. Thật vậy, Chúa Giêsu Giáng Sinh đã trở thành niềm vui cho toàn thể thế giới, là nguồn bình an mà muôn dân mong ngóng đợi trông, là Đấng đem lại cho con người hạnh phúc thật.

Lời Chúa trong bài đọc I gợi lại cho chúng ta thấy bối cảnh lịch sử của dân tộc Israel thời bấy giờ. Lúc ấy, họ bị lưu đầy vì quân đội Assyria xâm chiếm và bắt họ phải đi biệt xứ. Khi sống trong cảnh lưu vong như thế, họ nghĩ đến thân phận của mình như là "dân tộc bước đi trong u tối", chốn lưu đày đối với họ chính là "miền thâm u của sự chết", những khổ nhục họ phải chịu là "cái ách nặng nề đè trên người, cái gông nằm trên vai …" Tuy nhiên, cái đêm âm u cũng như miền thâm u sự chết, những cái ách và cái gông nặng nề đang đè lên trên họ đã được tiên tri Isaia gỡ bỏ khi loan báo về một trời mới, đất mới và họ sẽ được giải thoát: "Dân tộc bước đi trong u tối sẽ nhìn thấy sự sáng chứa chan", miền thâm u sự chết đó sẽ khơi nguồn sự sống, những gông, ách và roi vọt bị bẻ gãy… và được thay vào đó là cái ách của tình thương, lòng bao dung... Bởi vì “một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta, một Người Con đã được ban cho chúng ta, Hài Nhi sẽ tiếp nhận quyền bính trên vai và thiên hạ sẽ gọi tên Người là Cố Vấn kỳ diệu” (Is 9,6). Tiên tri Isaia nhấn mạnh hơn khi nói: “Đây là lời Đức Chúa loan truyền cho khắp cùng cõi đất: Hãy nói với thiếu nữ Sion: Kìa ơn cứu độ ngươi đang tới” (Is 62,11). Cũng vậy, tiên tri Mikêa, sống đồng thời với Isaia, đã thốt lên những lời đầy an ủi: “Hỡi Belem, nhỏ bé trong đất Giuđa, song từ nơi ngươi sẽ xuất hiện Đấng cai trị Israel, nguồn gốc Ngài có từ xa xưa, từ trước muôn đời, Ngài sẽ cai trị với sức mạnh của Chúa Giavê… Chính Ngài sẽ đem lại cảnh thái bình” (Mk 5,1-4).

Tuy nhiên, để hiểu sâu xa lời tiên báo của tiên tri Isaia và Mikêa cho dân Israel, chúng ta hãy đặt mình vào trong bối cảnh lịch sử của dân Israel đang bị cảnh lưu đầy tha phương, nỗi khổ tột cùng của thân phận nô lệ..., thì mới hiểu được thế nào là sự chờ mong da diết, khôn nguôi Đấng sẽ đến giải thoát mình! Trong khi chờ đợi như thế, những thử thách, tủi nhục, đắng cay đã làm cho họ chịu không nổi, nên đã thốt lên: “Bên bờ sông Babylon, ta ra ngồi nức nở mà tưởng nhớ Xion; trên những cành dương liễu, ta tạm gác cây đàn”.

Bởi vì: “Bọn lính canh đòi ta hát xướng, lũ cướp này mời gượng vui lên: Hát đi, hát thử đi xem, Xion nhạc thánh điệu quen một bài!" (x. Tv 137 (136), 1-3a. 4).

Nỗi đau khổ của dân Israel đã thấu tới Trời Cao, đã đụng chạm đến lòng trắc ẩn của Thiên Chúa, vì thế Người đã trao ban Con Một của mình xuống để cứu độ nhân loại: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Qua mầu nhiệm Nhập Thể và Giáng Sinh, Thiên Chúa đã xuống thế và trở nên con người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Từ nay, Ngài là  Đấng Emmanuel mà bao đời và muôn dân mong đợi.

Vì thế, Đên nay là: Đêm Hồng Ân; Đêm tình thương cứu thế; Đêm chan hòa Ánh Sáng; Đêm giao hòa giữa Trời và đất; Đêm khơi nguồn Bình An; Đêm mà Thiên Chúa và con người gặp nhau; Đêm Thiên Chúa trở thành người, để con người được phục hồi nhân vị trong tư cách là con và được gọi Người bằng Áp Ba- Cha ơi, vì thế, "... anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế” (Gl 4, 4-7).

Đứng trước hồng ân cao trọng này, chúng ta không thể không cất cao bài ca: “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu! Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh! Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ, kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người” (Tv 96, 1-3).

Khi mừng lễ Giáng Sinh với tâm tình như vậy, mỗi người chúng ta hãy khám phá ra "Đức Giêsu là quà tặng quí giá nhất Thiên Chúa trao gởi cho con người" (x.Ga 3,16; Is 9,5). Lời của Thiên Sứ báo tin cho các mục đồng chứng tỏ điều đó: “Này, tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em” (Lc 2, 10-11).

Mặt khác, chúng ta không chỉ trầm trồ khen ngợi, hay tạ ơn, mà còn là mở rộng tâm hồn để đón Chúa Giáng Sinh nơi tâm hồn và trong trái tim của chúng ta. Bởi vì giá trị đích thực của niềm vui giáng sinh là gì, nếu không phải là để cho Hài Nhi Giêsu lớn lên trong cung lòng của mỗi người!

Đức Giêsu, trong đêm Giáng Sinh, Ngài đã hoàn tất một chặng đường dài qua việc nhập thể và đi vào thế giới nhằm tìm gặp con người. Vì thế, Ngài đã trở thành người cha, người thầy, người bạn và người anh để cùng sống, cùng ăn, cùng đi với con người trong hành trình lữ thứ trần gian qua việc giảng dạy và nơi những nghĩa cử yêu thương. Ngài vẫn còn tiếp tục như thế cho đến ngày tận cùng của nhân loại qua Bí tích Thánh Thể. Nơi Bí Tích cực thánh này, Ngài đã trở thành “Bánh bởi trời”; “Bánh hằng sống”;“Lương thực thần linh” để nuôi dưỡng nhân loại và để cho những ai đón nhận được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10).

Noi gương Đức Giêsu, và để cho Ngài sống cũng như lớn lên trong tâm hồn chúng ta, mỗi người hãy trở nên quà tặng cho tha nhân qua một cử chỉ chân thành, một hành động ý nghĩa, một nụ cười thân thiện, một nghĩa cử cảm thông phát xuất từ niềm tin và lòng thương xót...

Đây có lẽ là món quà quý giá nhất mà Hài Nhi Giêsu vui mừng đón nhận, bởi lẽ: “Xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm" vì “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (x. Mt 25, 35- 45). Và, như bánh Thánh Thể, được bẻ ra, trao ban cho nhân loại thế nào, thì chúng ta cũng hãy mở rộng bàn tay và tấm lòng sẵn sàng chia sẻ cho những ai cần chúng ta giúp đỡ như vậy.

Ước gì, khi chúng ta đón nhận được món quà vô giá từ nơi Thiên Chúa qua hiện thân của Đức Giêsu, thì đến lượt chúng ta, mỗi người cũng hãy chia sẻ ân huệ đó cho người khác, nhờ đó, tất cả chúng ta sẽ được hưởng niềm vui trọn vẹn của Đại lễ Giáng Sinh đêm nay. Amen.

 NGHỊCH LÝ CỦA MẦU NHIỆM GIÁNG SINH
(GIÁNG SINH – LỄ ĐÊM)
(Is 9,1-6; Tt 2,11-14; Lc 2,1-14)

Khi nói về một tác phẩm hay một nhân vật, người ta thường hay nói về hoàn cảnh ra đời của nhân vật hay tác phẩm đó.

Đêm nay, khi mừng lễ giáng sinh, một lần nữa, chúng ta được nghe lại bài Tin Mừng theo thánh Luca nói về hoàn cảnh ra đời của Đức Giêsu. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở đó, nhưng phụng vụ Giáo Hội muốn con cái của mình phải tiến xa hơn nữa để khám phá ra đâu là nguyên nhân dẫn đến hoàn cảnh ra đời của Đức Giêsu, đồng thời thấy được sứ điệp mà Thiên Chúa gửi xuống cho nhân loại qua biến cố Ngôi Hai giáng trần!

1.Bối cảnh lịch sử

Về bối cảnh lịch sử, đất nước Dothái thời bấy giờ đang bị đô hộ bởi đế quốc Rôma, vì thế, buộc dân chúng phải lệ thuộc cơ cấu tổ chức lãnh đạo của đế quốc.

Theo truyền thống từ nhiều đời, đế quốc Rôma có thói quen: cứ 14 năm một lần, hoàng đế thực hiện một công việc liên quan đến toàn lãnh thổ cũng như các thuộc địa, đó là kiểm tra dân số.

Việc kiểm tra dân số sẽ giúp cho triều đình nắm vững về nhân khẩu để thu thuế và dễ bề tổ chức việc tuyển lính vào quân đội.

Vì thế, khi được lệnh thông báo, ai ai cũng phải về quê quán của mình để khai tên tuổi. Với thánh Giuse, ngài thuộc hoàng tộc vua Đavít, và tổ vương của ngài lại sinh trưởng tại Belem, nên từ Nadarét, Giuse đã phải đưa Maria vợ mình về quê quán để thi hành bổn phận của người công dân đối với lệnh triều đình.

Hành trình trở về Belem của thánh Giuse và Mẹ Maria gặp muôn vàn khó khăn. Khó khăn vì đường xá xa xôi! Các ngài phải vượt qua đoạn đường dài thăm thẳm khoảng 80 dặm, tương đương với 130 km. Gia đình của Giuse và Maria là một gia đình nghèo, vì thế, các ngài di chuyển bằng phương tiện hết sức thô sơ, hơn nữa, Maria lại đang mang thai và sắp đến ngày sinh nở, thế nên, đây là một cuộc hành trình đầy thách đố với các ngài!

Khó khăn chồng chất khó khăn! Tưởng chừng khi đến nơi, các ngài được yên ổn để lo công việc, ai ngờ, tại nơi đây, vợ chồng nghèo này một phần không có đủ tiền để thuê quán trọ, phần khác, nhìn thấy Maria bụng mang dạ chửa, các chủ quán trọ đều cảm thấy ái ngại!

Trong hoàn cảnh ấy, đôi vợ chồng nghèo này phải đành dẫn nhau ra tá túc ngoài đồng cỏ ngoại ô, nơi ở của súc vật. Và, tại nơi đây, Maria đã đến ngày: “Mãn nguyệt khai hoa”, vì thế, không còn lựa chọn nào khác, Maria buộc phải sinh con đầu lòng của mình ngay tại nơi sinh sống của súc vật.

2.Nghịch lý của mầu nhiệm Giáng Sinh

Một cuộc hạ sinh mang đậm nỗi nghèo; một biến cố làm kinh thiên động địa cả nhân loại; một sự kiện lưu dấu muôn ngàn thế hệ; một dấu ấn không bao giờ được phép quên đối với người Công Giáo!

Tại sao vậy? Thưa! Vì đây là một nghịch lý vì yêu của Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Giêsu qua cuộc giáng sinh vĩ đại này.

Thật vậy, xét về góc độ con người, nếu chúng ta nhìn dưới cái nhìn tự nhiên, thì cuộc giáng sinh của Con Thiên Chúa là một sự nhục nhã! Nhục nhã vì nghèo nên không được lưu trú một nơi xứng đáng; nhục nhã vì sinh ra trong cảnh màn trời chiếu đất, chốn bò lừa với những mùi hôi hám, dơ bẩn của súc vật!

Thử hỏi nơi chúng ta, những người đang hiện diện trong thánh lễ này, dù nghèo đến đâu, bi đát thế nào, liệu đã có ai phải sinh ra trong hoàn cảnh éo le, tệ hại đến như vậy hay không? Phương chi, đây lại là Hoàng Tử, Con Trời; là Thiên Chúa; Đấng quyền năng; Vua vũ trụ; Chúa các chúa, nhưng lại hạ sinh trong hoàn cảnh có một không hai như vậy? Phải chăng đây là đường lối nhiệm mầu, khôn ngoan của Thiên Chúa!

Thật vậy, với Thiên Chúa, sự giàu có của Người lại được thể hiện qua sự nghèo hèn, thiếu thốn nơi Đức Giêsu – Con Một yêu dấu, và, sự khôn ngoan của Thiên Chúa là con đường tự hủy, đi xuống và trao ban vì tình yêu. Đến lượt Đức Giêsu, Ngài đã thực hiện rõ nét sự điên rồ của Thiên Chúa khi đi sâu vào lòng nhân loại tội lỗi để giao hòa con người với Thiên Chúa; để yêu thương người nghèo và bênh vực những người không có tiếng nói; để bảo vệ công lý; xây dựng lẽ công bằng; làm chứng cho sự thật và cuối cùng là chết như một tử tội trên thập giá. Dưới cái nhìn thông thường thì đó quả là cuộc sống của kẻ điên rồ!

Tuy nhiên, tình yêu Thiên Chúa vượt trên mọi lý luận của con người, nên đã trở thành cớ vấp phạm cho người Dothái, sự điên rồ đối với người Hylạp.

Chính vì điều này, mà toàn dân Dothái, từ bao đời, họ được loan báo và chính họ hằng ngày mong ngóng đợi trông Đấng Cứu Thế, nhưng khi Ngài xuất hiện, họ đã không nhận ra. Ngược lại, Thiên Chúa đã tỏ mình và mạc khải cho những người nghèo, không có tiếng nói, đó là các mục đồng...

Tại sao vậy? Thưa! Người có thế giá, được Thiên Chúa yêu mến không phải là quyền cao chức trọng, không phải là giàu sang phú quý... mà là những con người mang trong mình tâm hồn đơn sơ chân thành, sẵn sàng đón nhận chân lý và vui vẻ đón nhận nghịch lý của tình yêu.

Quả thật, các mục đồng là những người như thế, nên được đón nhận đặc ân cao quý mà những người hiền triết, khôn ngoan không có được.

3.Sứ điệp Giáng Sinh

Trong xã hội hôm nay, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt. Trong tâm thức của con người hiện đại, họ coi người nghèo là những người đáng bị coi thường, khinh dẻ. Hơn nữa, sẵn có quan niệm kỳ thị, nên người nghèo không có tiếng nói, và lẽ đương nhiên, chân lý làm gì có nơi những con người chân lấm tay bùn!

Dưới cái nhìn chủ quan như thế, họ đã phỏng chiếu Thiên Chúa trong lối suy nghĩ của họ, tức là bắt Thiên Chúa phải theo ý niệm của mình.

Tuy nhiên, khi cử hành và chiêm ngắm mầu nhiệm Giáng Sinh, chúng ta khám phá ra nghịch lý của Thiên Chúa, đó là Thiên Chúa muốn cứu chuộc con người bằng con đường tự hủy. Ngài đã chấp nhận đi xuống tận cùng của sự thiếu thốn, nghèo khổ, cơ cực, để trở thành bạn của những ai bé nhỏ nghèo hèn, để nâng đỡ và bảo vệ những ai không có tiếng nói, để bênh vực những ai hiền lành và khiêm nhường. Nhất là để giao hòa con người với Thiên Chúa, trả lại tước vị làm con khi con người đã đánh mất thủa ban đầu. Nói như thánh Phaolô: “Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2Cr 8, 9).

Mong sao, mỗi khi mừng đại lễ giáng sinh, mỗi người chúng ta được ngụp lặn trong ánh sáng khôn ngoan của Thiên Chúa, để hiểu được chân lý ngàn đời nơi mầu nhiệm Giáng sinh là: chỉ có tình yêu đích thực mới đáng được gọi là tình yêu điên rồ. Cuộc sống người Kitô hữu nếu trung thành với lời cam kết của Bí tích Thanh Tẩy sẽ mãi mãi là hành trình đi ngược dòng, và do đó cũng không tránh khỏi nhãn hiệu điên rồ.

Xin Chúa ban cho chúng ta học được bài học nghèo khó, khiêm nhường, tự hủy của Thiên Chúa, để cũng đường lối ấy, chúng ta sống và thi hành trong tư cách là con Thiên Chúa. Amen.



VÌ YÊU, THIÊN CHÚA CHẤP NHẬN TRỞ NÊN NHỎ BÉ
(GIÁNG SINH – LỄ RẠNG ĐÔNG)
(Is 62,11-12; Tt 3,4-7; Lc 2,15-20)

Một câu chuyện đã làm cho Mẹ Têrêsa Calcutta rất cảm động và thường hay được Mẹ kể lại cho thính giả khi có cơ hội. Chuyện kể rằng:

Vào một ngày năm 1982, có hai bạn trẻ đến nhà tế bần của Mẹ tại Calcutta và dâng cho Mẹ một số tiền lớn để qua Mẹ cho người nghèo, bởi vì hai bạn trẻ đó biết là hằng ngày, các nữ tu dòng của Mẹ phải lo nấu ăn cho 7 ngàn người và lo phần quà cho người nghèo lên tới 9 ngàn. Thấy họ còn trẻ mà lại có số tiền lớn như vậy, nên Mẹ đã thắc mắc và hỏi xem tại sao họ có số tiền lớn như vậy? Hai bạn trẻ đã trả lời: “Chúng con mới cưới nhau được hai ngày. Trước ngày cưới, chúng con đã suy nghĩ và bàn bạc với nhau, cuối cùng, cả hai đều đồng ý không may đồ cưới cũng như không tổ chức yến tiệc linh đình. Số tiền ấy chúng con gửi tặng Mẹ để lo cho những người kém may mắn, vì họ không được như chúng con. Đây chính là món quà chúng con dành cho nhau trong ngày cưới khi cả hai cùng chấp nhận hy sinh để khởi đầu một cuộc sống chung”.

Ôi thật là một hành động anh hùng! Bởi vì ở bên Ấn Độ, nếu đám cưới mà không có y phục và yến tiệc thì là một sự nhục nhã lớn lao đối với hai họ và với chính đôi tân hôn.

Tuy nhiên, hai bạn trẻ này đã chấp nhận tất cả, chỉ vì tình yêu của họ dành cho người nghèo. Đây có thể nói là một cuộc tình thiêng liêng giữa họ với những người kém may mắn...

Nhân dịp lễ Giáng Sinh, chúng ta nghe lại câu chuyện trên để gợi nhớ cho mỗi người về một câu chuyện cách đây hơn 2.000 năm nơi một cuộc tình, cuộc tình đó chính là cuộc tình giữa Thiên Chúa và con người.

1. Một vị Thiên Chúa nghèo vì yêu

Khởi đi từ một vị Thiên Chúa giàu sang phú quý, toàn trí, toàn hảo, toàn năng, là Chủ Tể trời đất, nhưng Người đã chấp nhận trở thành con người, sinh ra trong cảnh màn trời chiếu đất, rét mướt, âm thầm qua hình hài một Hài Nhi bé bỏng, yếu ớt như bao trẻ em khác... Những người biết đến để tôn thờ không ai khác là chính những mục đồng chăn chiên... đơn sơ, chất phát và cũng nghèo nàn như những người nghèo thời bấy giờ.

Khi Thiên Chúa cho Con của Người xuống trần trong tâm thế như vậy, phải chăng không có lý do gì khác ngoài tình yêu! Quả thật: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban con một mình, để những ai tin vào Ngài thì không hư mất nhưng có sự sống đời đời” (Ga 3,16).

Khi Con Thiên Chúa sẵn sàng vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha để trở thành Ngôi Lời, thì đồng nghĩa với chuyện Ngài chấp nhận trở thành xác phàm và “cắm lều” để cư ngụ giữa nhân loại. Khi Ngài chấp nhận như vậy, ấy là Ngài sẵn sàng đi vào thế giới loài người, để mang nơi mình sự hữu hạn của con người trong kiếp nhân sinh, vì thế: Ngài đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế... để cảm nghiệm được cái đói, cái khổ cũng như sự giới hạn do quy luật tự nhiên dành cho con người.

Như vậy, qua mầu nhiệm giáng sinh, Thiên Chúa đã mặc khải tấm lòng xót thương vô biên của Người cho nhân loại, đồng thời cũng mời gọi mỗi chúng ta hãy cùng Đức Giêsu đi vào cuộc tình ấy với một tình yêu không biên giới, để giới thiệu cho nhân loại biết: “Thiên Chúa là Tình Yêu”.

2. Sống sứ điệp Lời Chúa qua mầu nhiệm giáng sinh

Cuối Tin Mừng hôm nay, sau khi thánh sử Luca đã trình thuật việc Đức Maria sinh hạ Hài Nhi Giêsu, tác giả đã đưa vào đó một cảm nhận thật tuyệt vời khi nói về Đức Maria: "Còn Bà Maria thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng".

Đây chính là điểm gợi ý cho chúng ta sống mầu nhiệm giáng sinh trong đời sống thường ngày hôm nay. Bởi vì:

Nếu không suy nghĩ và hồi tâm, thì hẳn mỗi dịp lễ giáng sinh đến và qua đi, chúng ta cũng như bao nhiêu người không có niềm tin! Họ mừng lễ giáng sinh như một lễ hội thuần túy, và không chừng, đây còn là cơ hội để họ làm ăn bất chính khi những món quà cho đi và nhận lại không biểu lộ tình yêu cho bằng một sự thực dụng!

Nếu không suy nghĩ và hồi tâm, phải chăng chuyện mừng lễ giáng sinh của chúng ta được đánh dấu và dừng lại bằng những chuyện trang trí bề ngoài, mà chúng ta đâu hiểu và sống mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa Cha đối với nhân loại, qua Đức Giêsu, nơi hang đá, máng cỏ, hay cũng không khám phá ra sứ điệp Ánh Sáng nơi đèn sao lấp lánh bên ngoài!

Nếu không suy nghĩ và hồi tâm, chúng ta cũng đâu khám phá ra việc Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh làm người là vì yêu thương người nghèo, tội lỗi và đến để cứu chuộc những con người như thế, để rồi chúng ta cũng tiếp tục sứ mạng ấy trong đời sống đạo của mình hôm nay!

Mong sao mỗi khi mừng lễ giáng sinh, chúng ta ý thức lại tâm tình đón mừng lễ của mình, để rồi ngang qua những chuện bề ngoài, mỗi người hãy để cho mầu nhiệm tình yêu giáng sinh bén rễ sâu vào trong tâm thức và sinh hoa kết trái nơi hành động của mình với Thiên Chúa và với tha nhân!

Có thế, chúng ta mới hy vọng xứng đáng là con của Thiên Chúa và được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu khi sống mầu nhiệm tình yêu giáng sinh trong cuộc sống.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho mỗi người chúng con biết cảm nghiệm được tình yêu cứu độ của Chúa dành cho con người. Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con thờ ơ với tình yêu ấy. Xin cho chúng con biết sống sứ điệp tình yêu của Chúa nơi mọi người, nhất là những người nghèo, tội lỗi và kém may mắn hơn chúng con. Amen.

ĐỨC GIÊSU LÀ ÁNH SÁNG
(GIÁNG SINH – LỄ BAN NGÀY)
(Is 52, 7-10; Dt 1, 1-6; Ga 1, 1 -18 )

Mỗi khi nói đến lễ Giáng Sinh, người ta đều biết rằng: “Đây là một lễ của Ánh Sáng”. Vì thế, bề ngoài, người ta trang hoàng lộng lẫy với những đèn sao nhấp nháy, đủ loại, muôn màu...

Tuy nhiên, phụng vụ Giáo Hội luôn mời gọi con cái mình đi xa và tiến sâu hơn để khám phá ý nghĩa của ánh sáng trong tâm tình phụng vụ, tức là biết được giá trị, sứ điệp của ánh sáng trong mầu nhiệm cứu chuộc của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu qua mầu nhiệm giáng sinh.

1.Đức Giêsu là Ánh Sáng

Thánh sử Gioan hôm nay đã trình thuật cho chúng ta biết mầu nhiệm giáng sinh của Ngôi Hai Thiên Chúa trong tư cách là Ngôi Lời nhập thể, trở thành xác phàm để “cắm lều” ở giữa nhân loại và đem ánh sáng cứu độ của Thiên Chúa từ trời cao xuống trần gian, nhằm dẫn đường chỉ lối cho con người, ngõ hầu những ai tiến bước trong ánh sáng thì sẽ được cứu chuộc nhờ tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Biến cố này đã được ngôn sứ Isaia loan báo: "Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng" (Is 9,1); hay trong Thánh Vịnh 96 có chép: "Ánh sáng bừng lên chiếu rọi người công chính, niềm vui làm rạng rỡ kẻ lòng ngay" (Tv 96, 11).

Thật vậy, từ lúc “Ngôi Lời hóa thành nhục thể” (Ga 1,14), trở thành Đấng “Emmanuel, tức là Thiên Chúa - Người” để ở giữa chúng ta, nhân loại được chan hòa ánh sáng, khiến trời đất giao hòa, vạn vật được thăng hoa và mọi hành vi của con người khi được kết hợp với Đức Giêsu thì sẽ có giá trị cứu độ nhờ ánh sáng của Ngài chiếu soi.

Thánh Gioan diễn tả đặc tính này như sau: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9). Tuy nhiên, ánh sáng ấy đã bị bóng tối khước từ: “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1, 10-11).

Khi nói như thế, thánh Gioan ám chỉ trực tiếp tới dân tộc Dothái, nhưng mặt khác, ngài cũng mở rộng để nói đến mọi thành phần, mọi nơi, mọi thời khi khước từ Đức Giêsu bằng việc không tin Ngài cũng như sứ điệp cứu độ mà Ngài đem đến cho nhân loại.

2.Sống sứ điệp Ánh Sáng qua mầu nhiệm Giáng Sinh

Ngày nay, trên thế giới, vẫn không thiếu gì cảnh bóng tối uy hiếp hay chối từ ánh sáng!

Bóng tối đó chính là những âm mưu chống phá Giáo Hội, trối bỏ đức tin, phủ nhận tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Đôi khi những bóng tối đó là những lựa chọn xấu xa, những hành vi bất chính, những gian tham, lọc lừa đến từ phía cá nhân hay tập thể.

Và, bóng tối đó có thể chính chúng ta khi chúng ta sống trong tội lỗi, kiêu ngạo, tự phụ, giả hình, phô trương, ích kỷ, nhỏ nhen, bất nhân, với anh chị em đồng loại.

Như vậy, mỗi khi mừng lễ giáng sinh, chúng ta được mời gọi thuộc về ánh sáng và trở nên nguồn ánh sáng giữa thế gian đầy bóng tối và tội lỗi.

Ước gì, mỗi người Kitô hữu đều hiểu rằng: Đức Giêsu đã trở nên ánh sáng để soi chiếu trần gian, Ngài đã gọi ta ra khỏi bóng đêm của tội lỗi qua Bí tích Rửa Tội, để chúng ta bước đi trong đường lối ánh sáng của Ngài, đồng thời ban cho chúng ta hết ơn này đến ơn khác, thì đến lượt mỗi người, chúng ta cũng phải sống như con cái sự sáng và trở nên ánh sáng soi cho mọi người khi đời sống của chúng ta mang đậm tấm lòng nhân ái, cảm thông, liên đới, chính trực, chân thành, đơn sơ, khiêm tốn...

Lạy Chúa Giêsu, mỗi khi mừng lễ giáng sinh, xin Chúa ban cho chúng con hiểu được ý nghĩa, giá trị của mầu nhiệm ánh sáng mà Chúa mang đến cho nhân loại. Đồng thời, xin cho chúng con hiểu được bổn phận của chúng con là trở nên ánh sáng của Chúa trong cuộc sống hôm nay.

Ước gì ngang qua cuộc sống của chúng con, mọi người nhận ra mầu nhiệm ánh sáng của Chúa và đi theo ánh sáng đó để được cứu chuộc. Amen.



Thứ Bảy, ngày 28 tháng 11 năm 2015

SỨ ĐIỆP 4 CÂY NẾN MÙA VỌNG


 Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long


Bên Âu Châu – ít là bên Đức - có tập tục từ xa xưa mỗi khi đến mùa vọng, mùa chuẩn bị đón mừng lễ Chúa Giêsu giáng sinh xung trn thế làm người, trong các nhà thờ, ở tư gia hay các nơi công cng, người ta treo trên cao hay đặt nằm trên bàn, một vòng tròn bện bằng cành lá cây thông, lá cây tùng tươi xanh.

Tập tục vòng mùa vọng không thy có bên Vitnam quê nhà. Trên vòng lá cây này nơi bốn góc có bốn cây nến to hoặc mầu trắng, hoặc mầu tím hoặc mầu đỏ. Đó là vòng mùa vọng với bốn Cây Nến.

Đâu là ý nghĩa vòng mùa vọng với bốn cây nến ?

Vòng mùa vọng được bện theo hình tròn không có khởi đầu và ng không có tận cùng như hình mt tri. Vòng tròn là biểu hiu cho Thiên Chúa, Đấng không có khởi đầu và cùng tận.

Vòng được bện bằng các cành lá cây thông xanh tươi. Mu xanh tươi tốt là biểu hiu của niềm hy vọng, của tương lai cho đời sống luôn luôn đổi mới. Chúa Giêsu giáng sinh làm người là niềm hy vọng tương lai cho đời sống.

Bốn cây nến này được ln lượt đốt lên từ Chúa nht thnhất mùa vọng trước lGiáng sinh. Chúa nht thnhất mùa vọng mt cây nến được thp sáng lên, chúa nht thhai hai cây nến , chúa nht thứ ba ba cây nến và chúa nht thứ tư  cả bốn cây nến.

Bốn cây nến được ln lượt thp sáng trong bốn tuần muốn nói lên ý nghĩa: Nứơc Thiên Chúa cũng triển nở lần lượt như bốn cây nến được thp lên cho ti ngày lễ Chúa Giêsu giáng sinh, đấng là ánh sáng trn gian. Ánh sáng bn cây nến toả ra bốn phương trời đất trong công trình sáng to ca Thiên Chúa.   

Bốn cây nến là mốc cho bốn chng đường, bốn tuần lễ chuẩn bị đón mừng lThiên Chúa xung thế làm người. Trong thi gian này Hội thánh công giáo kêu mời mọi người dành thi giờ dọn tâm hồn đón mừng lễ Chúa xung làm người, lễ ánh sáng mt tri công chính.

Cây nến là hình nh Chúa Giêsu, đấng là ánh sáng trn gian ( Gioan 8,12 ). Ánh sáng toả ra từ cây nến không làm chói mắt khi nhìn thng vào nó, nhưng cm thy thi vị đầm ấm. Khi nhìn thng vào Chúa Giêsu trong nhà tạm, khi tiếp nhận người qua tm Bánh Thánh Th, khi nghe li người trong phúc âm, ta không có cảm giác khó chịu, nhưng trái lại tìm được bình an ơn tha thứ làm hoà cho tâm hồn. Một điều rất cn thiết cho cuộc sống thể xác lẫn tâm hồn.

Khi cây nến được đốt lên cũng ct nghĩa về hình nh Chúa Giêsu. Chất sáp làm nên cây nến là hình nh thân xác con người ca Chúa Giêsu. Thân xác con người được Thiên Chúa dng nên có khởi đầu, có phát trin, có nhng yếu đuối bệnh tt giới hạn và sau cùng có cùng tận. Chúa Giêsu xuống trn gian làm người, sống cuộc sống hy sinh ca con người như chất sáp bị cháy hao mòn thiêu huỷ.

Còn ngọn lửa đốt sáng cây nến là hình nh bản tính Thiên Chúa ca Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Thiên Chúa và ng là người, nên ngài có hai bản tính: Thiên Chúa và con người.

Ngọn lửa đốt cháy chất sáp và tỏa ra ánh sáng hơi ấm tình yêu cho mi người.

Bốn cây nến chung quanh “vòng mùa vọngmang bốn sứ điệp đến cho con người:
Cây nến thnht chiếu ánh sáng Hoà bình cho những tâm hồn có lòng khoan dung nhân ái.
Cây nến thứ hai mang ánh sáng Niềm Tin cho nhng tâm hồn khao khát tìm về với Chúa là cội nguồn của đời sống.
Cây nến thba chiếu toả hơi ấm Tình Yêu cho những tâm hồn tìm sống tình liên đới với người khác.
Cây nến thứ tư mang niềm Hy vọng cho nhng tâm hồn cn niềm vui phấn khởi.

Bốn Cây Nến Mùa Vọng loan báo sứ mạng ca Chúa Giêsu xuống trn gian làm người với và cho con người.

Thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2015

THÁNH HIẾN HAI ĐẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÀNH ROMA



Lm. Daminh Nguyn ngc Long

Nguyên tác: Thánh hiến vương cung thánh đưng Thánh Phero và Thánh Phaolo thành Roma

Hng năm ngày 18.11. Giáo hi Công giáo Roma mng nhngày thánh hiến hai đi Vương cung thánh đưng Thánh Phero và Thánh Phaolo bên Roma.

Vương cung thánh đưng Thánh Phero

Hoàng đế Roma Constantino năm 323 , sau khi cng nhn đo Công giáo, mra knguyên chm dt thi kGiáo hi Công giáo bbt bch hi trong toàn đế quc Roma, đã cho xây dng Vương cung thánh đưng trên ngôi mThánh Phero chân đi Vatican. Phn phía Nam ca thánh đưng nm bên phn sân din trò xiếc gii trí ca vua chúa Roma, nơi đây Thánh Phero dưi thi Hoàng đế Nero đã bhành quyết đóng đinh ngưc tvì đo năm 67. sau Chúa giáng sinh.



Ngôi mca Thánh Phero nm ngay dưi bàn thchính ca đn th. Dưi thi Đc giáo hoàng Pio XII. vào thế k20. đã có cuc khai qut kho cổ, và tìm thy ngôi mcùng du tích sùng kính Thánh Phero ca giáo hu thi xa xưa hi thế kthnht và thhai.

Theo truyn thuyết kli, ngôi đn ththi Constantino đưc Đc giáo hoàng Silvester I. thánh hiến ngày 18.11.326, và ngôi đn thđưc xây dng hoàn thành vào gia thế kth4. sau khi hoàng đế Constantino qua đi.

Trong thi kcác Đc giáo hoàng sng lưu vong Avignon bên Pháp t1309 - 1377, đn thbxung cp hư hi. Nhưng sau đó tnăm 1450 đn thđưc sa cha li. Sau cùng dưi thi Đc Giáo Hoàng Julius II. năm 1506 ngôi đn thcũ có tui th1200 năm bphá hy hoàn toàn. Và ngài đt viên đá đu tiên xây dng ngôi đn thmi như đang thy ngày nay.

Công trình xây dng đn thmi do KBramente vha đvà Ksư Michelangelo thc hin. Công vic xây dng kéo dài trên 100 năm. Ngôi đn thmi cũng  đưc xây ngay trên ngôi mca Thánh tông đPhero, và là thánh đưng ln nht ca Giáo hi Công giáo. Đc giáo hoàng Urbano VIII. đã làm phép thánh hiến khánh thành ngôi đn thmi cũng vào ngày 18.11.1626, mà trưc đó 1300 năm ngôi đn thcũ thi vua Constantino ngày 18.11. 326 cũng đã đưc làm phép thánh hiến.

Đn thThánh Phero là công trình xây dng tri vưt vhình thc nghthut, và mang ý nghĩa trung tâm đim ca Giáo hi Công Giáo hoàn cu.

Công trình này đưc các vksư cùng điêu khc danh ha góp công sc thc hin tBramante đến Raffael, Peruzzi, Michaelangelo, Giacomo della Porta, phn trang trí nghthut do nhng kit tác ca danh ha thiên tài Michaelangelo, Bernini và nhiu ngưi khác na.

Vương cung thánh đưng Thánh Phaolô

Thánh Phaolo là vTông đdân ngoi đã loan truyn tin mng Chúa Giêsu Kitô tbên vùng Trung Đông nưc Do Thái sang tn  Âu châu. Đi ti đâu Ông thành lp Giáo đoàn Kitô giáo, và viết 14 thư mc v, như nn tng giáo lý, gi các Giáo đoàn Kitô giáo. Và sau cùng vào khong năm 64. chết chu tvì đo dưi thi hoàng đế NeroRoma.


Ngay tnăm 200 đã có bng ghi nhng nim ngôi mThánh Phaolô Via Ostia . Hoàng đế Constantino theo du chng đó đã cho xây ngôi đn thờ ở ngoài thành Roma năm 324 đkính Thánh Phaolo, và đưc Đc giáo hoàng Sylvester thánh hiến.

50 năm sau, năm 374 Hoàng đế Theodosius I. cho xây mrng ngôi đn thto ln thêm ra. Đến thi Đc giáo hoàng Leo I. ( trvì t440-461) ngôi đn thđưc xây dng hoàn thành.

Tháng By 1823 ngôi đn ththi Constantino btrn ha hon thiêu hy hư hi nng, chphn hu cung thánh vi nhng bc tranh Mosaic tthế kth5. và 13. còn nguyên vn không bcháy.

Ngôi đn thmi kính thánh Phaolo ngoi thành đưc xây dng li ngày 10.12. 1855 dưi thi Đc giáo hoàng Pio IX. đưc làm phép thánh hiến.

Trong vương cung thánh đưng Thánh Phaolo ở trên phần đầu ng chung quanh có hình vkhc kiu Mosaic các Đc giáo hoàng ca Hi Thánh Công giáo tThánh Phero, vgiáo hoàng tiên khi cho ti vGiáo hoàng đương kim.

Ngày 25.01.1959, vào ngày lkính Thánh Phaolo tông đtrli, Đc Giáo Hoàng Gioan XXIII. trong đn thnày đã tuyên bmCông đng chung Vaticano II. 1960-1965

Đn thgi là ngoi thành, vì nm ngoài tưng thành Roma do hoàng đế Aureliano xây bc tưng bao quanh Roma năm 271 đngăn chng các tn công ca các sc dân tbên ngoài vào trong thành Roma.

Biu tưng ý nghĩa thn hc

Hai ngôi đn thvĩ đi Thánh Phero và Thánh Phaolo  Roma không chto ln bthế vcông trình li kiến trúc đsvng chc, và nhng trang hoàng n tưng mang du n rt nghthut thi trung ccó mt không hai txưa nay. Nhưng hai ngôi đn thcòn là hình nh nói lên du chvThiên Chúa vô hình đang hin din gia con ngưi, vi nhng hàng ct cao trong ngoài thán đưng, nhng vòm chm tháp vươn cao lên không trung gia thiên nhiên, nhng mu sc hài hoà ca nhng tng đá cm thch cùng đưng vân thiên nhiên hòa hp vi ánh sáng chiếu ta strong sáng nét đp ca thiên nhiên.

Có thnói đưc nhng ý tưng mà các vKsư và các vdanh Ha điêu khc đã khc ghi vào công trình gđá xây dng hai ngôi đn thnày, bt ngun như thc ăn gi hng cho hlà con ngưi, là ngưi có lòng tin vào Chúa, là ksư kiến trúc, là nhà danh hochuyên môn,  tba cun sách vthiên nhiên, cun sách Kinh Thánh và cun sách vPhng v.

Vì thế, hai ngôi đn thkết hp đưc cba mt kiến trúc trong thi đi trn gian, vlch sơn cu đca Chúa phn thiêng liêng, như Kinh thánh thut li, và vphng v, nơi con ngưi trn thế chành lnghi thphưng Thiên Chúa.

Hai ngôi đn thđưc xây dng đkính hai Thánh tông đPhero và Phaolo, nhưng hkhông phi là nn tng cho hai đn thnày. Chính Chúa Giesu Kitô mi là đá nn tng nim tin cho đn th( 1 cor 3,10-11). Vì nơi hai đn thnày mi khi mi tín hu Chúa Kitô thp đc kinh cu nguyn, chành nghi lphng v, là tưng nim ssinh ra, chu chết và sng li ca Chúa Kitô. Đó là nn tng đc tin ca Kitô giáo.

Chúa Giêsu Kito là đá tng nâng đcho ngôi đn thđc tin ca Giáo hi đưc vng chc. Nơi Chúa Giêsu chúng ta hc và đc đưc Li ca Chúa, cũng như tnơi Ngài Giáo hi nhn đưc sc sng, giáo lý và ssai đi đến vi con ngưi.

Hai ngôi đn thnày như hình nh  biu tưng cho Giáo hi Công giáo Roma, cũng đã tri qua nhng ln bhư hi xung cp, bha hon cháy thiêu ri, và đưc sa cha li, xây dng mi li. Hai ngôi đn thkiến trúc công trình nghthut đng vng thàng bao thế knay là do luôn đưc quyét dn, tân trang bo trì sa cha liếp tc.

Đi sng trong Giáo hi cũng vy, có nhng giai đon thoái hóa lên xung vmt tinh thn đo giáo cũng như tchc điu hành qun lý. Nhng khúc ngot hay bóng ti đó gây ra nhng tiếng tăm không tt, hu qa tiêu cc.

Nhưng đng thi đó cũng là dp tt để Giáo hội nhìn ra biết mình mà điu chnh sa cha làm mi li cho tt lành đúng như ý Chúa mun, cùng là nhân chng cho Chúa gia lòng xã hi con ngưi trn thế. Có thế ngôi nhà đc tin Giáo hi mi đng vng đưc.
_______________________

Hai ngôi đn thThánh Phero và Thánh Phaolo Roma như ct trca Giáo hi Công giáo va vmt tinh thn va vmt kiến trúc cùng bthế.

Hai vThánh tông đnày cùng đưc mng kính chung trong mt lmng ngày 29.06. hng năm.

Và hai ngôi đn thkính hai vThánh cùng đưc mng nhđến ngày thánh hiến chung ngày 18.11. hng năm. 

Thánh Phaolo viết nhn nhvGiáo hi Chúa Kitô:

„Tôi mun nói là trong anh em có nhng lun điu như: "Tôi thuc vông Phao-lô, tôi thuc vông A-pô-lô, tôi thuc vông Kê-pha, tôi thuc vĐc Ki-tô.“ (1 cor 1,12)….
„Tôi trng, anh A-pô-lô tưi, nhưng Thiên Chúa mi làm cho ln lên.7 Vì thế, ktrng hay ngưi tưi chng là gì c, nhưng Thiên Chúa, Đng làm cho ln lên, mi đáng k.Tht vy, chúng tôi là cng sviên ca Thiên Chúa. Anh em là nh đng ca Thiên Chúa, là ngôi nhà Thiên Chúa xây lên.“ (1 cor 3,6-9).



CHIA SẺ

MẸ MARIA - THÁNH GIUSE - CÁC THÁNH

GIÁO HỘI

VĂN HÓA

DI CẢO LM. J.H

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Affiliate Network Reviews