Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

CÁI KHỐ CỦA CHÚA JESUS TRÊN THẬP GIÁ


                                                       
                                       
Thập giá là một dụng cụ giết người hết sức dã man, thường được các đế quốc cổ Hy Lạp và cổ La Mã sử dụng.  Đây là một loại cực hình đặc biệt mà người La Mã và Hy Lạp chỉ dùng riêng cho các nô lệ hoặc dân các nước thuộc địa nổi loạn chứ không áp dụng cho các công dân của họ.  Trước khi bị đóng đinh, các tội nhân không phân biệt nam nữ, đều bị lột trần truồng, tuyệt đối không có một mảnh vải nhỏ nào che thân.  Khi bị treo trên thập giá, sức nặng của cơ thể làm cho các vết đinh đóng trên tay chân bị căng xé khiến tội nhân bị đau nhức cùng cực nhưng không chết.  Tội nhân phải sống để chịu những cơn đau buốt liên tục hành hạ trong một thời gian dài.  Chỉ khi nào tội nhân kiệt sức không thể nâng đầu lên được nữa thì đầu sẽ cúi gằm xuống khiến cằm đụng vào ngực. Lúc đó tội nhân sẽ từ từ bị nghẹt cổ họng và chết vì ngộp thở (air-suffocation) chứ không chết vì bị chảy hết máu.
Trong trường hợp muốn cho tội nhân chết sớm hơn, bọn lính hành hình dùng cán giáo đập gẫy xương ống chân của tội nhân khiến cho tội nhân không thể nâng thân mình lên, toàn thân sẽ rũ xuống và sẽ chết ngộp trong giây lát. Chúng ta cũng nên nhớ rằng trong ba người cùng bị đóng đinh một lượt với Jesus, chỉ một mình Jesus đã không bị lính La Mã đập gẫy ống xương chân.  Nếu Jesus bị đập gãy ống xương chân thì lịch sử nhân loại đã đổi khác và khá hơn bây giờ nhiều.  Sở dĩ Jesus may mắn thoát chết vì có nội tuyến cứu bồ là Đại úy La mã chỉ huy toán lính hành hình hôm ấy tên Longinus. Y nguyên là một tín đồ bí mật của Jesus. (Mark 15: 39 và 27 :54,  Luke 23 : 47).  Theo học giả Gregory of Nyssa thì Nicodemus, Joseph of Arimathia và Đại úy Longenus đều là những tín đồ bí mật của Jesus (secret followers of Jesus). Riêng Đại úy Longenus về sau làm Giám mục tại thành Capadocian. Nicodemus là nghị viên quốc hội Do Thái (Jewish Councellor - John 3 : 1- 22)  Khi còn ở Ephram, Nicodemus bí mật viết thư cho vợ của Jesus là Magdalena  báo cho biết Jesus sắp bị quốc hội Do Thái bắt để giao cho quân La mã xử tội  (John 11 : 53) .
Địa điểm hành hình tội nhân bằng thập giá thường ở những nơi công cộng như dọc đường lộ hoặc trên đồi cao để công chúng dễ thấy.  Hình phạt xử tử bằng thập giá vừa là một hình phạt về thể hình giống như lăng trì (rất đau đớn và chết chậm) nhằm mục đích khủng bố tinh thần đám dân nô lệ và vừa là một nhục hình nhằm sỉ nhục tội nhân vì suốt trong một thời gian dài tội nhân bị phơi thân trần truồng trên thập giá truớc mặt công chúng.
 Sau khi chết, xác nạn nhân không được đem đi chôn mà đều bị vứt ra các bãi hoang cho chó rừng hoặc kên kên ăn thịt. Cho nên, nếu không có đàn em tay trong đến cứu, Jesus chỉ có thể ở một trong hai trường hợp : Hoặc thoát chết và bỏ lỡ cơ hội chịu chết chuộc tội cứu thế, hoặc đã bị quân La mã vứt xác cho chó rừng ăn thịt chứ không còn nguyên thân xác sống lại đàng hoàng đụợc. Nếu sống lại với thân hình không nguyên vẹn thì Jesus đã trở thành quỉ nhập tràng chứ không phải Ngôi Lời Nhập Thể! Giả sử do một phép thần thông nào đó, Jesus đã sống lại và bay lên trời đúng như Thánh Kinh Tân ước mô tả thì ngày nay Jesus cũng mới bay được 2/3 đoạn đường từ trái đất đến sao Bắc Đẩu mà thôi,vì sao này cách chúng ta 3000 năm ánh sáng!
 Lịch sử Tây phương ghi nhận nhiều vụ hành hình bằng thập giá.  Vào thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên, hoàng đế Alexander the Great của Hy Lạp đã xua quân tiến chiếm thành Tyre.  Vì bị dân thành chống cự, Alexander đã ra lệnh đóng đinh 2000 dân của thành này.  Vụ thứ hai rất nổi tiếng xảy ra năm 71 trước Công Nguyên, đó là vụ viên tướng La Mã Marcius Crassus ra lệnh đóng đinh 6000 nô lệ có liên quan trong cuộc nổi loạn của nô lệ Spartacus.  Sáu ngàn cây thập giá mang xác người đã được dựng lên dọc theo con đường vài chục dặm từ Cupua đến Rome!
Đến thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, triều đại Constantine ra luật hủy bỏ lệnh cấm đạo Ki Tô và bỏ luôn hình phạt dã man này.
Hiển nhiên, Jesus là một trong số những nạn nhân đã bị người La Mã xử tội bằng cách đóng đinh trên thập giá.  Thế nhưng, người La Mã sau này lại không nhận tội giết Chúa mà lại đổ cho dân tộc Do Thái đã giết Ngài! Đó là nguyên nhân chính yếu gây nên họa diệt chủng Do Thái triền miên trong gần hai ngàn năm qua.
Dưới thời bị La Mã đô hộ, người Do Thái không có quyền xử tử bất cứ tội nhân nào mà không có phép của chính quyền La mã. Khi Do Thái còn độc lập thì theo tục lệ và luật pháp cổ truyền, tử tội bị dân chúng ném đá cho đến khi thấy tội nhân không nhúc nhích cựa quậy gì nữa.  Dân tộc Do Thái chưa bao giờ giết người bằng cách đóng đinh nạn nhân vào thập giá.  Dân Do Thái quả đã không giết Jesus và kẻ thật sự giết Ngài là đế quốc La Mã.
          Học giả Do Thái Leonard C. Yasseen, tác giả cuốn "The Jesus Connection to triumph over Anti-Semistism"- (154 pages, Crossroad NY 1985) đã viết: " Từ nhiều thế hệ , danh từ Messiah (Ki Tô) đã truyền đời trong dân Do Thái , theo tiếng Hebrew, có nghĩa là vị vua được Thiên Chúa xức dầu chúc phúc sẽ cứu dân Do Thái khỏi bị áp bức.  Trong thời của Jesus, dân Do Thái mong chờ Chúa Cứu Thế sẽ đập tan quyền lực của đế quốc La mã và phế bỏ vị vua hiện hữu đang cai trị Do Thái để thay thế bằng hậu duệ của minh quân David"  For generations, the word that had been passed down among Jews that through the intervention of the Messiah (Greek word: Christos) which in Hebrew means the annointed King,  God would redeem Israel from oppression. The Messiah was expected in Jesus' day to destroy the power of Rome over Palestine to replace the existing king with a descendant of David - page 30).  "Sau khi Jesus chết, niềm tin Ngài là Chúa Cứu Thế bị lung lay vì theo truyền thống Đạo Do Thái không có Chúa Cứu Thế Chết. (After his death that their belief in Jesus as their Messiah was shakenened, for Judaism had no tradition of a dying Messhiah - page 31)
Bốn thế kỷ sau cái chết của Ngài trên thập giá, hoàng đế La Mã Constantine đã dùng cây thập giá giết Ngài để làm huy hiệu cao quý cho cả đế quốc.  Constanine tuyên bố: "Dưới dấu hiệu thập giá, ta sẽ chinh phục thế giới". (In Hoc Signo Vinces) Constantine xua quân đi chinh phục tới đâu truyền đạo Kitô tới đó.  Chẳng bao lâu, toàn đế quốc La Mã trở thành các nước có đa số dân theo đạo Kitô.  Ai theo đạo thì được các quân lính mang huy hiệu chữ thập bảo vệ, ai kháng cự tất nhiên sẽ phải chịu hình phạt.  Dần dần các dân theo đạo cảm thấy cây thập giá như một thứ bùa hộ mạng và hoàn toàn quên mất thực chất của nó là một dụng cụ giết người cực kỳ hiểm ác.  Họ bắt đầu nhìn cây thập giá như biểu hiện cho tình yêu đau khổ của Chúa Jesus (the symbol of Christ's suffering love) và cũng từ đó họ gọi cây thập giá là THÁNH GIÁ (The Holy Cross).
Tại các nhà thờ, những bài kinh ca ngợi Thánh Giá xuất hiện:  "Chúng tôi kính mừng Cây Thánh Giá là cây đã chuộc tội chúng tôi, là cây lành thánh sang trọng, là đơn linh nghiệm, là tàu vượt biển, là chìa khóa mở cửa thiên đàng, là cành cây đầy búp bông hoa quả, là cây đã chở mình Chúa tôi.  Chúng tôi trông cậy cây thánh giá đưa chúng tôi qua khỏi gian nan tới nước thiên đàng bên cạnh Chúa!".
  Trong các nhà thờ hồi đó không có ảnh tượng của Chúa và các thánh. Thực sự vào thời đó chưa có nhà thờ (church) hay đại thánh đường (cathedral) mà chỉ là những phòng hội (synagogue) không có bàn thờ hay một ảnh tượng nào. Các tín đồ đến nhà hội nghe những tín đồ khác   thuyết trình một đề tài nào đó về đạo, rồi họ cùng nhau cầu nguyện chung. Lúc đó chưa có ai biết hành nghề linh mục, làm lễ xong cho bổn đạo ăn chút bánh dính răng rồi thu tiền khán giả xem lễ như bây giờ.
Từ thế kỷ 5 sau Công Nguyên, các họa sĩ của nhà thờ bắt đầu vẽ hình cây thánh giá trơn tru, nhưng dưới chân thánh giá có hình một con chiên màu trắng.  Con chiên đó tượng trưng cho Chúa Jesus vì trong thánh kinh Chúa Jesus được gọi là Con Chiên của Thiên Chúa (The Lamb of God).
Theo cổ tục đạo Do Thái, mỗi khi muốn tạ lỗi với Thiên Chúa, người ta giết một con chiên (cừu non) hay dê làm vật hy sinh thay cho mình để xin Thiên Chúa tha tội.  Bản thân Chúa Jesus được tín đồ coi như là "một con chiên của Thiên Chúa" đã chịu chết trên thập giá làm "của lễ hy sinh cao quí vô cùng" để chuộc tội cho toàn thể loài người (The Redeemer of the whole mankind !).
Sang thế kỷ thứ 6, các họa sĩ nhà thờ tiến thêm một bước là vẽ hình Jesus mặc áo dài trắng (long tunic), hai tay dang ra trên thanh gỗ ngang, hai chân chụm lại và "đứng" lơ lửng trên thánh giá.  Hai tay hai chân của Ngài để lộ những dấu đinh rướm máu.  Cũng trong thế kỷ thứ 6, Chúa Jesus bắt đầu được tôn xưng là Vua và gọi ngài là "Chúa Jesus - Vua" (Le Christ-Roi).
 Cây thập giá khổ hình ngày xưa bỗng nhiên biến thành cái ngai cao quí hơn bất cứ cái ngai vàng nào khác của các vua chúa thế gian.  Chúa Jesus đã nghiễm nhiên trở thành "vua của các vua" (King of kings) trong toàn đế quốc La Mã.  Họa sĩ nhà thờ vẽ ảnh Chúa đứng dựa vào thánh giá, nét mặt nghiêm nghị oai phong như không còn một chút đau đớn nào trên cơ thể.  Nét mặt Ngài tỏa ánh hào quang của kẻ đã chiến thắng cái chết và đã sống lại hiển vinh để cai trị toàn thế giới cho đến muôn đời!  Hình ảnh này của Chúa Jesus đã tồn tại qua nhiều thế kỷ trong các nhà thờ tại Âu Châu.
Sau khi giáo hội Công Giáo Hy Lạp tách rời khỏi Công Giáo La Mã vào thế kỷ 11 để trở thành Chính Thống Giáo, các họa sĩ Hy Lạp có sáng kiến vẽ hình Chúa bị đóng đinh vào thánh giá.  Đầu của Chúa đội mão gai, máu chảy đầm đìa trên trán và trên khuôn mặt đau khổ.  Những dòng máu chảy dài từ hai bàn tay xuống tới hai bên nách.  Nhát giáo đâm cạnh sườn đã tạo thành một vết thương mở toang, máu từ tim ngài chảy xuống thành một dòng chảy lớn trên những xương sườn.  Khắp thân thể Chúa còn in hằn lên rất nhiều vết roi bầm tím.  Các họa sĩ nhà thờ đua nhau đem hết tài năng của mình để lột tả mọi sự đau đớn mà Chúa phải gánh chịu vì tội lỗi loài người trên thập giá.
  Nhưng mọi tài năng và mọi sự tưởng tượng phong phú của các họa sĩ cuối cùng đã phải dừng lại ở... CÁI KHỐ !  (the loin-cloth)  Không một họa sĩ nào dám đi xa hơn cái khố của Chúa Jesus trên thập giá.  Trải qua nhiều thế kỷ, tới nay vẫn không có một ai dám đủ can đảm khắc họa đúng sự thật hình ảnh của Chúa trên thập giá.  Sự thật là bọn lính La Mã đã lột hết quần áo của Ngài.  Chúng đóng đinh treo Ngài lên thập giá với một thân xác trần truồng.  Cái khố ta thấy trên tượng Chúa hiện nay là một sản phẩm hoàn toàn ngụy tạo.  Cái khố đó tuy nhỏ xíu nhưng lại là một tấm màn vĩ đại che đậy toàn bộ bí mật của đạo Kitô.
Gần hai ngàn năm qua, giáo hội Kitô không dám vén cái khố của Chúa lên vì sợ để lộ cái vết cắt da qui đầu của Chúa.  Bởi Chúa là công dân Do Thái trăm phần trăm, là tín đồ của Moises trăm phần trăm, là đệ tử của John Baptist trăm phần trăm và là nạn nhân của đế quốc La Mã trăm phần trăm!  Ngài là một con người bình thường như mọi người chúng ta. Ngài chỉ khác chúng ta ở chỗ Ngài được bọn đế quốc thần thánh hóa bằng huyền thoại Ki Tô (Jesus was Chisted) để chúng núp đằng sau  trục lợi.  Bản thân Ngài chẳng được lợi lộc gì trong việc ngài được chúng tôn lên làm Thiên Chúa, chỉ có bọn đế quốc được hưởng lợi mà thôi.  Đạo của Chúa được bọn đế quốc truyền đi bằng gươm giáo của những đoàn quân lê-dương, bằng dàn hỏa, bằng tàu bè súng đạn của chủ nghĩa thực dân cũ mới và với đủ thứ mưu chước bịp bợm tinh vi.
Người ta vẫn tiếp tục đóng khố cho Chúa để che dấu mọi sự thật về Ngài, bởi lẽ nếu mọi người biết rõ sự thật về Chúa thì đạo Kitô sẽ không còn nữa!

(Phỏng theo THE GREAT COVER-UP của cựu linh mục Dòng Tên  Peter de Rosa.  Tác giả viết bài này để thay lời nói đầu cho tác phẩm VICARS OF CHRIST).




Thứ Bảy, ngày 12 tháng 4 năm 2014

TỪ MIỀN THẤP LÊN CAO



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long 



Hằng năm người Công giáo mừng Chúa Giêsu vào thành thánh Gierusalem ngày Chúa nhật lễ Lá.

Nhưng đâu là ý nghĩa ngày lễ mừng này?

Lễ mừng này không chỉ có nguồn gốc nơi Kinh Thánh, lịch sử của đức tin, nhưng còn nói đến ý nghĩa về cuộc đời Chúa Giêsu, Đấng sáng lập Hội Thánh Chúa ở trần gian từ hơn hai ngàn năm qua.

Chúa nhật lễ Lá theo nguyên ngữ tiếng Latinh Dominica in Palmis de passione Domini,. Chúa nhật này là chúa nhật thứ sáu và cũng là chúa nhật cuối cùng mùa chay, cùng là Chúa nhật trước lễ Chúa Giêsu phục sinh. Từ Chúa nhật lễ Lá bắt đầu Tuần Thánh, theo tập tục nếp sống đức tin của Hội Thánh Công gíao và Giáo Hội Chính Thống.

Ngày Chúa nhật lễ Lá nhắc nhớ lại biến cố Chúa Giêsu tiến vào thành Thánh Giêrusalem như một vị Vua. Khi Ngài vào tới thành Thánh được dân chúng hoan hô vạn tuế Hosanna đón chào như một vị Vua (Ga 12,13-15; Mt 21,1-11; Lk 19, 28-40.)

Dân chúng đón chào Vua Giêsu đang cỡi con lừa đi vào không chỉ qua lời tung hô vạn tuế Hosanna, nhưng họ còn cầm cành lá vạn tuế chiến thắng vẫy chào, cùng trải khăn áo ra ngoài đường phố đón mừng Ngài nữa.

Cành lá vạn tuế chiến thắng xưa kia ở nhiều nơi là „ cây thánh thiêng“. Ở vùng biển Địa trung hải cành lá vạn tuế chiến thắng là hình ảnh của sự sống, của chiến thắng vinh quang. Với người Do Thái còn mang ý nghĩa đặc biệt về hình ảnh nói lên sự độc lập và của Vua chiến thắng khải hoàn (1 Maccabe 13,51, 2 Maccabe 14,4). Vì thế, cuộc tiến vào thành Giêrusalem với cành lá vạn tuế tung hô, dưới mắt người Roma là một hình thức đe dọa thách thức quyền uy thống trị đế quốc của họ.

Cành lá vạn tuế theo Thánh Vịnh trong Kinh Thánh mang ý nghĩa chỉ về sự công chính: Người công chính  của Thiên Chúa xanh tươi như cánh là vạn tuế (Tv 92,13). Cây cành vạn tuế có rễ ăn sâu trong dòng nước sự sống. Nơi đó người công chính cũng bắt nguồn đời sống mình.

Trong Lễ Lều Trại của người Do Thái, cành lá vạn tuế là hình ảnh của sự vui mừng. Lễ Lều Trại nhắc nhớ đến cuộc xuất hành đi trong sa mạc của dân Do Thái từ Ai Cập trở về quê hương đất nước Do Thái. Trong thời gian đi trong sa mạc họ cư ngụ trong các lều trại.  

Con lừa theo sách Tiên tri Sacharia 9,9 là hình ảnh của vị Vua hòa bình không có quyền hành sức mạnh, là hình ảnh của sự khiêm nhường, của sự nghèo khó.

Chúa Giêsu cỡi lừa vào thành Giêrusalem nói lên hình ảnh mang ý nghĩa: Ngài không xây dựng nước Thiên Chúa trên quyền hành sức mạnh, Ngài không dùng sức mạnh quân sự làm cách mạnh chống lại người Roma. Quyền hành của Người là một hình thái khác: Đó là sự nghèo khó của Thiên Chúa, nền hòa bình của Thiên Chúa, là sức mạnh ơn cứu chuộc phần linh hồn con người.

Lời tung hô Hosanna dân chúng gào thét đón mừng Vua Giêsu, theo nguồn gốc là lời kêu xin: Xin hãy cứu giúp! Vào lễ Lều Trại (Laubtenhuettenfest) của người Do Thái, vị Tư Tế khi tiến vào nơi bàn thờ tế lễ nói lời kêu xin „Hosanna“ xin cho được nước mưa từ trời cao rơi xuống trên trần gian. Và lời cầu xin Hosanna từ đó biến thành lời thố lộ sự mừng rỡ hân hoan.

Lời tung hô Hosanna dân chúng gào thét ngày Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem nằm trong ý nghĩa lời vui mừng ca tụng Thiên Chúa đang tiến vào thành Giêsrusalem. Đồng thời cũng còn mang ý nghĩa nói lên niềm hy vọng vào thời giờ của vị cứu thế đang đến, cùng xin vương quốc của vua David và vương quốc của Thiên Chúa thể hiện mới lại trên dân Israel.

Để kỷ niệm cuộc tiến vào thành Giêrusalem của Chúa Giêsu ngày xưa, từ thế kỷ thứ 4. Giáo hội Chính Thống đã có truyền thống rước cành lá ngày Chúa nhật lễ Lá.

Truyền thống lễ nghi rước Lá ngày Chúa nhật lễ Lá nơi đạo Công giáo có muộn hơn từ thế kỷ thứ 8.

Ngày nat, cuộc rước kiệu Lá mang ý nghĩa cảm động rất đặc biệt hằng năm diễn ra ở Giêsusalem. Vào ngày này hàng ngàn người hành hương với cành lá trên tay cùng nhạc cụ do Dòng Phanxico tổ chức rước kiệu từ Vườn Cây Dầu đi qua cổng thành tiến vào phố cổ thành Giêrusalem.

Các Thánh sử viết phúc âm Chúa Giêsu tường thuật chi tiết cuộc hy sinh khổ nạn Chúa Giêsu và sự phục sinh sống lại vào dịp lễ mừng Vượt Qua của người Do Thái. Thánh Luca Thánh sử diễn tả con đường của Chúa Giêsu như con dường hành hương leo lên cao từ miền Galile lên Giêrusalem.

Theo phương diện hình thể địa lý, biển hồ Galile miền Nazareth ở vị trí 200 mét thấp hơn mặt nước biển, còn Giêrusalem nằm ở vị trí trung bình 760 mét cao hơn mặt nước biển. Như thế, Chúa Giêsu từ nơi ngài sinh sống ở miền Galile dưới thấp vượt đường leo lên Giêrusalem trên vùng cao nói lên ý nghĩa: sự đi lên cao của Ngài nơi đền thờ Giêrusalem là địa điểm, mà Thiên Chúa cho danh tính Ngài được cư ngụ, như trong sách Dân số 12, 11, 14,13 đã nói đến.

Cuộc hành hương leo lên đền thờ thành Giêrusalem là cao điểm sự hy sinh chịu chết được dương lên cao treo trên thập gía của Chúa Giêsu mở đầu với biến cố cỡi con lừa tiến vào thành Giêrusalem ngày lễ Lá.



Chúa nhật lễ Lá 2014


Thứ Ba, ngày 08 tháng 4 năm 2014

HÃY Ở LẠI TRONG THẦY NHƯ THẦY Ở LẠI TRONG CÁC CON



... Thầy Gabriel Casas 39 tuổi đang thụ huấn năm thứ hai thần học tại chủng viện Saint-Cyprien thuộc giáo phận Toulouse miền Nam nước Pháp. Xin nhường lời cho thầy kể lại lộ trình hoán cải, lãnh bí tích Rửa Tội và gia nhập chủng viện.

Tôi sinh ngày 21-11-1975 tại Maracaibo nằm về mạn Tây Bắc nước Vénézuela. Tôi là anh trưởng của gia đình có 3 người con. Cha Mẹ tôi ly thân vào thời kỳ tôi còn nhỏ. Vào năm 14 tuổi, tôi cân nặng đến 130 ký. Sự kiện này khiến tôi bị mặc-cảm trở thành nhút nhát, khép kín, không có bạn bè và không bao giờ dám ló mặt ra khỏi nhà. Thân mẫu tôi một mình dưỡng dục 3 đứa con gồm tôi, một em trai và một em gái. Từ ngày thân phụ bỏ rơi 4 mẹ con chúng tôi, thân mẫu phải vất vả ngược xuôi làm việc rất nhiều. Do đó tôi lớn lên với mối hận thù chồng chất trong trái tim dành cho thân phụ tôi. Thấy thế, mẹ tôi vô cùng lo lắng nên đưa tôi đi chữa trị nơi một bác sĩ chuyên khoa tâm lý. Cuộc chữa trị kéo dài vài năm nhưng tôi vẫn còn nhút nhát và khổ sở.

Vào năm tôi 17 tuổi, vì thấy tình trạng rối loạn tâm lý đáng thương của tôi, một trong các giáo sư trung học mời tôi theo một khóa học giáo lý của phong trào Con Đường Tân Dự Tòng. Vào thời kỳ ấy tôi chưa được rửa tội và mang đầy thành kiến đối với Giáo Hội Công Giáo. Nhưng bởi vì tôi quá khốn khổ nên tôi làm theo lời khuyên của vị giáo sư. Nơi phong trào Con Đường Tân Dự Tòng tôi ngỡ ngàng khám phá ra mình bước vào một cộng đoàn gồm toàn những người đơn sơ giản dị, hoàn toàn khác biệt nhau. Có người đã rửa tội. Có người chưa. Nhưng tất cả vui vẻ tiếp rước tôi, lắng nghe tôi và hỗ trợ tôi. Bầu khí huynh đệ thân thương này giúp tôi từ từ khám phá ra Giáo Hội Công Giáo và ơn gọi linh mục của tôi. Nó cũng cho phép tôi thoát ra khỏi chính mình. Chỉ vỏn vẹn vào năm sau đó tôi chính thức xin rửa tội, lãnh các bí tích và gia nhập Giáo Hội Công Giáo duy nhất thánh thiện và tông truyền.

Thế rồi vào năm 24 tuổi, tôi bắt đầu khao khát tìm kiếm một lý tưởng. Với tư cách là tín hữu Công Giáo, tôi cảm thấy mình vẫn còn thiếu thốn một cái gì đó. Tiếp đến, tôi đặt tin tưởng nơi một lời khuyên dành riêng cho tôi trong phong trào. Lời này khuyến khích tôi tha thứ và giao hòa với thân phụ tôi. Mặc cho bao nỗi sợ hãi, mặc cho bao thù hận vẫn còn chất chứa đè nặng trong cõi lòng, tôi quyết định đến gặp thân phụ. Người sống không xa chúng tôi bao nhiêu. Gặp người, tôi ngỏ lời xin người tha thứ vì đã dồn ứ không biết bao nhiêu là tư tưởng xấu về người. Tôi nói thẳng với người là tôi không thể yêu người như một người cha, bởi vì người đã không xử sự đúng với tư cách của một người cha. Nhưng lời nói cuối cùng của tôi chính là:
- Với sự trợ giúp của THIÊN CHÚA, giờ đây con có thể tha thứ cho Ba!

Sau biến cố tha thứ giao hòa với thân phụ, tôi đã lôi cuốn được toàn thể gia đình đi theo lộ trình hoán cải của tôi. Trước tiên tôi sung sướng chứng kiến cảnh thân mẫu tôi trở về với Giáo Hội Công Giáo, trở lại nhà thờ tham dự phụng vụ và lãnh các bí tích. Rồi đứa em trai và đứa em gái của tôi cũng bằng lòng xin rửa tội. Ngày hôm nay thì chúng tôi thường xuyên gặp thân phụ chúng tôi. Lộ trình hòa giải này - tôi xin thành thật thú nhận - là chúng tôi không thể nào thực hiện được, nếu không có sự trợ giúp của THIÊN CHÚA, được biểu lộ trong Giáo Hội của Người.

Sau khi kết thúc học trình và hành nghề một thời gian trong lãnh vực xí nghiệp với tư cách giám đốc các tài nguyên nhân bản, tôi bắt đầu lộ trình tìm hiểu ơn gọi linh mục.

Khi đến Pháp vào tháng 11 năm 2006 tôi bắt đầu học tiếng Pháp và hoàn thành một năm dự-cao-học. Sau đó khi học xong năm thứ nhất của chu kỳ đầu tiên nơi chủng viện Toulon, tôi được gởi đi thực tập mục vụ tại các giáo phận Bayonne, Lescar và Oloron. Hai năm sau tôi trở lại chủng viện để hoàn tất chu kỳ học tập đầu tiên. Tháng 9 năm 2012 tôi đến tổng giáo phận Albi để tiếp tục học trình chu kỳ thứ hai nơi chủng viện Saint-Cyprien ở Toulouse để tiến đến thiên chức linh mục. Muôn vàn cảm tạ hồng ân bao la của THIÊN CHÚA nhân lành.

... Đức Chúa GIÊSU phán cùng các môn đệ rằng: ”Thầy là cây nho thật, và CHA Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn. Anh em được thanh sạch rồi nhờ Lời Thầy đã nói với anh em. Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu anh em ở lại trong Thầy và Lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. Điều làm CHÚA CHA được tôn vinh chính là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy” (Gioan 15,1-8).

(”Église d'Albi”, Bulletin bimensuel diocésain des catholiques du Tarn, No 2, 22 Janvier 2014, 141è année, trang 8)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Thứ Bảy, ngày 29 tháng 3 năm 2014

GẮN BÓ VỚI HỘI THÁNH CÔNG GIÁO ROMA



Lm. Daminh nguyễn ngọc Long





Trong Căn phòng lưu giữ những kỷ vật của Tôi tớ Chúa cố hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận ở Koeln có một kỷ vật đặt trong lồng kính trông như một chiếc cặp da mầu nâu. Nhưng không, đó là một tấm bằng da mầu nâu trông giống như một cái cặp. Tấm đó là tấm lót ở bàn giấy chỗ viết cho giấy nằm yên không bị xê dịch.

Tấm lót mầu nâu này ngày xưa ở nơi bàn giấy làm việc của cố Hồng Y Phanxico Nguyễn văn Thuận bên Văn phòng Công lý Hòa Bình trong giáo triều Roma.

Đức cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận , khi còn là Tổng giám mục, ngày 09.04.1994 đã được cắt cử làm Phó chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Công lý Hòa bình. Và từ ngày 24.06.1998 được bổ nhiệm là Chủ tịch Hội Đồng Giáo hoàng về Công lý Hòa bình ở giáo triều Roma.

Trong suốt thời gian làm việc trong giáo triều ở Hội Đồng giáo Hoàng về Công lý Hoà bình, tấm lót da mầu nâu này đã là tấm kê trên bàn giấy của ngài. Hầu như hằng ngày mỗi khi ngồi vào bàn làm việc viết lách hay đọc sách, tay ngài, đều đặt trên tấm da lót dưới bàn giấy. Và biết đâu có khi mệt qúa, ngài cũng đã có lúc gục mặt trên đó ngủ thiếp đi một khoảnh khác.

Nói tóm lại, tấm da lót bàn giấy đó đã theo sát ngài trong trong suốt thời kỳ từ 1994 đến khi qua đời ngày 16.09.2002.

Tấm da lót đó tuy là một vật thể được dùng cho các bàn giấy trong Giáo triều Roma để lót dưới bàn giấy văn phòng. Nhưng nó lại đã trở thành một món đồ vật gắn bó với người đã xử dụng nó một thời gian dài.

Tấm da lót đó lại không phải là bất kỳ tấm da lót nào mua ngoài cửa hàng. Nhưng tấm da lót đó do giáo triều Roma đặt làm dùng cho các văn phòng bàn giấy của giáo triều Roma. Trên tấm da lót đó có khắc vẽ huy hiệu của Tòa Thánh Roma, Vì thế nó có một gía trị riêng khác biệt, như một di tích văn hóa lịch sử.

Và tấm lót da đó của riêng dùng trong các bàn giấy ở giáo triều Roma cũng nói lên sự liên quan gắn bó với đời sống trong giáo triều của Hội Thánh Công giáo Roma. Hình ảnh này cùng ý nghĩa như thế chúng ta cũng thấy ở nơi các cơ quan chính quyền các quốc gia, các hãng xưởng, bàn giấy.  

Lẽ dĩ nhiên, ngày xưa, khi được bổ nhiệm cắt cử vào làm việc trong Văn phòng Hội đồng giáo hoàng về công lý Hoà bình, có lẽ Đức cố hồng Y đã không chú ý đặt nặng đến tâm da lót nơi bàn làm việc của mình. Ngài đã chấp nhận dùng nó như phương tiện, cùng là lề lối làm việc ở nơi đây thôi.

Ngài sống và cung cúc làm việc „như một đầy tớ vô dụng“ được Thiên Chúa và Hội Thánh tin tưởng trao phó với niềm hy vọng cậy trông.

Khi được Thiên Chúa gọi trở về với Ngài, Đức cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận chắc chắn không hề để tâm nghĩ tới những vật dụng trong đời mình bao giờ. Nhưng những người thân thiết cùng làm việc chung kề cận với ngài, nhất là em gái ngài Bà Elisabeth Nguyễn thị Thu Hồng, đã thu dọn cất những vật dụng đời ngài như những kỷ niệm tình thân thiết trong gia đình.

Không ngờ, những vật dụng kỷ niệm cho gia đình về đời cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận lại trở nên những kỷ vật nhân chứng về đời ngài cho nhiều người. Vì từ 2007 Hội Thánh Công giáo đã đang trong tiến trình mở dự án phong Chân phước cho ngài.

Ngài đã được nâng lên hàng Tôi Tớ Chúa, và rồi đây sẽ được tôn phong lên hàng Á Thánh trong Hội Thánh, để mọi người tín hữu Chúa Kitô tôn kính.

Chỉ mình ngài vì những nhân đức, những hy sinh cho tình yêu Chúa, được tôn phong lên hàng anh hùng các Thánh trong Hội Thánh. Còn những vật dụng ngày xưa ngài đã dùng trong đời sống lúc còn sinh thời, chỉ là những kỷ vật, những „nhân chứng“ thôi, cho đời để chiêm ngắm, và có thể nhắc nhớ đến con người, cùng rút ra bài học gương sáng sống nhân đức anh hùng của vị Thánh.

Tấm da lót nơi bàn giấy của vị Tôi tớ Chúa, cố hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận, hiện còn lưu giữ trong Căn phòng ở Koeln là một trong những kỷ vật của đời ngài còn được lưu giữ bảo quản cũng nằm trong ý nghĩa đó.

Tấm da lót nơi bàn giấy làm việc của ngài thời xa xưa từ 1994 - 2002 còn nói lên mối tương quan lòng gắn bó của vị tôi tớ Chúa Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận với Hội Thánh Công giáo Roma rất nhiều. Nhìn tấm da lót chúng ta nhớ đến ngài, nhớ đến lòng dấn thân gắn bó của ngài với Giáo hội. Nhưng không phải chỉ trong thời kỳ làm việc trong Gíao triều Roma, trong Văn phòng Công lý Hòa bình, lòng gắn bó với Giáo hội mới sống động, mới mật thiết keo sơn. Mà còn hơn thế nữa trong lao tù thời trước đó hằng chục năm rồi.

Trong tuần giảng tĩnh tâm cho Giáo triều Vatican mùa chay 2000, Đức cố Hồng Y đã nói lên tình gắn bó keo sơn, mật thiết thế nào của đời một Giám mục trong lao tù với Hội Thánh Chúa Kitô:

„Tôi muốn kết luận bài suy niệm sáng nay với câu chuyện về một kinh nghiệm rất đơn sơ cũng trong thời gian tôi bị cầm tù.

Thật khó tưởng tượng nổi sự kiện: trong những năm tôi bị thở thách cam go (từ sau năm 1975 trở đi), các tín hữu chúng tôi lo âu dường nào, vẫn tìm cách nghe lén Đài Vatican để cảm nghe nhịp đập trái tim của Gíao hội hoàn vũ và liên kết với Đấng kế vị Thánh Phero. Họ làm như thế bất chấp nguy cơ có thể bị phạt hoặc bị tù, vì như thế là nghe „ sự tuyên truyền của ngoại quốc phản động“.

Về sau, chính tôi cũng cảm thấy cùng một kinh nghiệm như vậy. Trong khi tôi bị cô lập ở Hà Nội, thì một ngày kia, một nữ công an mang cho tôi một con cá nhỏ để tôi nấu ăn. Vừa khi tôi thấy tờ giấy bọc con cá, tôi cảm thấy rất vui mừng, nhưng tôi cố nến lòng không biểu lộ ra bên ngoài. Tôi vui mừng không phải vì con cá, nhưng là vì tờ báo bọc con cá: đó là hai trang báo „ Quan sát Viên Roma - Osservatore Romano“ .

Trong những năm ấy, báo này mỗi khi được gửi qua bưu điện Hà Nội, thì thường bị tịch thu và đêm đi cân bán ở quày mua giấy cũ ở chợ. Hai trong báo ấy được dùng để gói con cá nhỏ. Tôi bình tĩnh, không để cho ai thấy, và rửa sạch những trang báo đó để tẩy sạch hết mùi tanh, rồi phơi khô và giữ nó như một thánh tích.

Đối với tôi, trong khi vị biệt giam, những trang báo ấy là một dấu chỉ tình hiệp thông với Roma, với Thánh Phero, với Hội Thánh, và đó là một vòng tay ôm từ Roma. Giả sử không ý thức mình là thành phần của Hội Thánh, có lẽ tôi đã không sống sót nổi.

   Ngày nay, chúng ta sống trong một thế giới đang tìm cách loại bỏ những gía trị của văn minh sự sống, tình thương, và sự thật. Hy vọng của chúng ta chính là Giáo hội vốn là hình ảnh Chúa Ba Ngôi. (ĐHY Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận, Chứng nhân Hy vọng, Dân Chúa 2001, tr. 194-195)

Keo sơn mật thiết cùng tràn đầy hình ảnh sống động và thâm sâu hơn nữa, tưởng khó có thể hơn được.

„ Lạy Thiên Chúa toàn năng và hằng có đời đời,
là Cha và Con và Thánh Thần, con cảm tạ Chúa vì đã ban cho Hội Thánh gương chứng tá anh dũng của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận.
Kinh nghiệm khổ đau trong ngục tù, được ngài sống liên kết với Chúa Kitô chịu đóng đinh, dưới bóng che chở hiền mẫu của Mẹ Maria, đã rèn luyện ngài nên một chứng nhân sáng ngời cho Hội Thánh và toàn thế giới, về sự hiệp nhất và tha thứ, cũng như về công lý và hòa bình.
Con ngưòi dễ thương mến cùng với sứ vụ mục tử giám mục của ngài  tỏa chiếu rạng ngời ánh sáng của đức tin, nhiệt tâm của niềm hy vọng và sức sống nồng ấm của đức ái.
Giờ đây, nhờ lời bầu cử của ngài và theo thánh ý Chúa, xin Chúa ban cho con được ơn đang cầu khẩn,với niềm hy vọng thấy ngài sớm được vinh hiển trên bàn thờ. Amen!“
Địa chỉ liên lạc tới thăm Căn phòng
Stiftung der Celittinen zur hl. Maria
Graseggerstrasse 105 - 50737  Koeln- Longerich
Tel. 0049 (0) 221-974514-51 Email: info@cellitinnen.de
Herr Diakon W. Allhorn: 0221- 97451420
Mùa Chay 2014


Chủ Nhật, ngày 23 tháng 3 năm 2014

HỌC GÌ TỪ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ?


   
Giáp Văn Dương


Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “Trí thức cận thần” để đi trên con đường mới – con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân – thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.

Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.

Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.

Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?

Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.

Trí thức độc lập

Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.

Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.

Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”.

Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền.

Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy “coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ”, tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.

Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.

“Trí thức cận thần”

Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: “Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay… Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết”.

Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một “trí thức cận thần”: Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.

Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.

Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.

Do hành xử như một “trí thức cận thần”, không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.

Bài học cho hậu thế

Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.

Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường “trí thức cận thần” của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.

Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.

Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.

Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần”, và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.

—————————————————

Ghi chú:

1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ “trí thức cận thần” chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.

2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dung cụm từ này trước đó hay chưa.

3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với “trí thức cận thần”, đó là “trí thức phò chính thống”, do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh tế.

4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.

(Nguồn: Blog Giáp Văn)

Thứ Bảy, ngày 22 tháng 3 năm 2014

CHIẾC GIẾNG NƯỚC



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long


Trong lịch sử đời sống con người xưa nay trên mặt đất lúc nào cũng cần có nước để sinh sống.


Nước mưa trên trời rơi xuống, nước trong đại dương biển cả, nước trong lòng sông , ao hồ, nước từ trên núi cao chảy xuống. Nước không do con người chế tạo làm ra. Nước có trong thiên nhiên do Đấng Tạo Hóa ban cho vũ trụ.

Nhiều nơi không có, hay xa ao sông hồ, hay ở những nơi có ít nước trong lành vệ sinh, người ta phải đào sâu xuống lòng đất để lấy nước lên cho việc sinh sống. Hố sâu đào trong lòng đất lấy nước lên trong dân gian gọi là giếng nước.

Nước cần thiết cho đời sống, cho sự sống phát triển cùng được duy trì. Nước là báu vật không chỉ để tắm rửa, nhưng còn để cho các cơ quan trong thân thể con người cùng xúc vật được no đủ không bị khát, không bị tê kiệt bại liệt.

Cây cối, hoa qủa trong khu vườn, bên vệ đường, trong rừng sâu hay trên núi sườn đồi thiên nhiên cũng cần nước mới phát triển sinh sôi nẩy nở được.

Nước mang đến sự sống cho hôm nay cùng ngày mai được phát triển vươn lên, sinh hoa kết trái.

Tổ phụ Giacóp ngày xưa cũng đã đào một chiếc giếng sâu trong lòng đất lấy nước uống cho mọi người trong gia đình Ông và đàn xúc vật của Ông.

Chiếc Giếng nước Giacóp, hiện còn được bảo trì ở bên vùng Samaria thuộc Palestina trong ngôi đền thờ Chính Thống giáo.

Nhưng theo Phúc âm thuật lại có hai chiếc giếng nước nữa không có hình thể địa lý đào sâu xuống lòng đất. Đó là chiếc giếng của người phụ nữ miền Samaria và chiếc giếng Chúa Giêsu.

Chị phụ nữ người Samaria ra bờ giếng Giacóp kéo múc nước đem về dùng. Nhưng sau cùng chị lại trở thành chiếc giếng.

Tại sao vậy? Và là chiếc giếng gì vậy?

Chị phụ nữ người Samaria xin Chúa Giêsu: „ Thưa Ngài, xin cho nước uống, để tôi chẳng còn khát, và khỏi phải đến đây múc nước nữa.“

Qua cuộc nói chuyện với Chúa Giêsu đang ngồi nghỉ bên bờ giếng Giacóp, lịch sử đời tư của chị ta được dần dần khai mở ra. Chiếc giếng này không là chiếc giếng hình thể địa lý, được xây bao bằng những cục đá giữ cho sạch sẽ cùng vững chắc ở chung quanh mép bờ thành giếng. Nhưng nó vô hình thể cùng ở tận trong trái tim tâm hồn đời chị, cùng không tuôn chảy ra nước để dùng uống giải khát. Nó chứa đựng lịch sử sâu kín đời sống chị hôm qua, hôm nay và ngày mai.

Như dòng nước ở dưới nguồn lòng đất cuộn chảy mang đến cho giếng lúc nào cũng có đủ nước. Cũng vậy những lịch sử tâm sự sâu kín đời chị ta luôn như dòng nước cuộn lên trong lòng chị ta. Bây giờ chị gặp được người thông cảm, nhìn hiểu được đời sống mình, chị tin tưởng kể ra những tâm sự lịch sử đời mình.

Dòng nước lịch sử tâm sự sâu kín đời chị chảy trào dâng ra khỏi giếng lòng chị ta.

Chúa Giêsu trả lời cho chị người Samaria xin nước uống: „ Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ ban cho thì không bao giờ khát nữa. Vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời.“

Và như thế Chúa Giêsu nói về chính Ngài chiếc giếng nước hằng sống đó.

Cũng vậy, chiếc giếng nước Giêsu không phải là giếng nước địa lý đào sâu trong lòng đất. Nhưng là chiếc giếng nước tâm linh. Chiếc giếng nước Giêsu cung cấp nước hằng sống. Chính Ngài là nước sự sống ơn cứu chuộc.

Chiếc giếng nước Giêsu tuôn chảy dòng nước tâm linh ơn tha thứ, để cho tội nhân được ơn giải thoát, không bị kết án, có sức mạnh làm mới, xây dựng lại đời sống mình từ khởi đầu.

Chiếc giếng nước Giêsu không hình thể địa lý, nhưng sâu thẳm. Trong đó con người có thể dìm mình múc được nguồn mạch nước tình yêu thương của Người. Chiếc giếng này không có giới hạn, không khô cạn, không bị ngộ độc. Chiếc giếng nước Giêsu là giếng nước nguồn hy vọng cùng bình an hạnh phúc cho tâm hồn con người.

Những chiếc giếng nước thuật kể lại trong phúc âm ngày Chúa nhật thứ ba mùa chay là những lịch sử về tình yêu. Lịch sử tình yêu đời sống con người và  lịch sử tình yêu ơn cứu độ của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu cho con người.


Thứ Bảy, ngày 08 tháng 3 năm 2014

NHỮNG CƠN CÁM DỖ


Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

Trong đời sống con người cần những nhu cầu căn bản như quần áo, lương thực, nhà cửa cho đời sống. Nhưng con người chúng ta lại luôn có mong muốn nhiều hơn, cùng mức độ cao hơn thế nữa. Đó là đầu mối dẫn đưa vào vòng bị cám dỗ.

Cám dỗ có từ ngày tạo thiên lập địa. Kinh Thánh trong sách Sáng thế thuật lại cơn cám dỗ đầu tiên mà con người vướng vào. Đó là cơn cám dỗ lỗi phạm điều Thiên Chúa cấm Ông Bà nguyên tổ Adong Eva.

Ông Bà nguyên tổ chúng ta đã nghe lời con rắn ma qủy đường mật dụ dỗ ăn trái Thiên Chúa cấm ăn trong vườn địa đàng. Hậu qủa là tội nguyên tổ thấm nhập ăn rễ sâu trong máu mủ, xương tủy, trái tim tâm hồn cùng thân xác con người chúng ta từ Ông Bà thủy tổ lan tỏa cho tới mọi thế hệ con người. Từ ngày đó càng phát sinh ra nhiều hình thức tội lỗi khác nữa nơi con người, càng phát sinh những ước muốn khác lạ vượt ra ngoài những nhu cầu cần thiết cho đời sống.

Chúa Giesu, Con Thiên Chúa, xuống trần gian làm người, cũng đã bị ma qủi cám dỗ. Nhưng thay vì như Ông bà nguyên tổ Adong Eva nghe theo ma qủi cám dỗ, Ngài đã cương quyết đối kháng chống lại chúng.

Ngày xưa ma qủi cám dỗ Ông Bà nguyên tổ ở trong vườn địa đàng. Nhưng nay ma qủi bày cơn cám dỗ Chúa Giêsu ở ba nơi khác nhau: trong sa mạc, nơi đền thờ và trên núi cao.

1. Cám dỗ ma quỉ bày ra trong sa mạc: „ Nếu Ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá này biến thành bánh. „

Cơn cám dỗ đến đúng lúc Chúa Giêsu đang đói. Vì đã 40 ngày Người ăn chay nhịn đói trong sa mạc. Cơn cám dỗ nhắm thẳng vào nhu cầu thỏa mãn no đói của con người.

Cám dỗ mở đầu đầy thách thức:“ Nếu Ông là Con Thiên Chúa....“ thách thức này chúng ta cũng hay nghe trong đời sống: nếu ông có tài, có quyền phép...Thách thức như thế là cái bẫy, cái kế giăng ra khiêu khích lòng tự cao tự đại nơi con người.

Chúa Giêsu không đếm xỉa cái bẫy đó. Nhưng Ngài trả lời đối lại bằng lời khôn ngoan thâm sâu đạo đức và cũng nói lên sứ mạng của Ngài:“ Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.“

Trong bước đường rao giảng nước Thiên Chúa sau này, Chúa Giêsu đã hai lần làm phép lạ cho bánh hóa ra nhiều để nuôi sống những người đang lúc đói đi theo nghe Người giảng thuyết.

Những người đi nghe Chúa Giêsu giảng thuyết bỏ mọi sự sang một bên. Họ mở tâm hồn trái tim mình ra cho Lời Chúa. Và như thế họ có thể được lãnh nhận bánh ăn trong cung cách chính đáng. Và Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho họ có bánh ăn đầy đủ trong lúc đói.

Nghe Lời Chúa giúp cho trở nên đời sống liên kết với Chúa. Và dẫn đưa từ đức tin tới lòng yêu mến, cùng khám phá ra những điều khác nữa.

Phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều cho những người đang đói đi theo nghe Lời Chúa giảng là hình ảnh nói về phép bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu cử hành trong Bữa tiệc ly ngày Thứ Năm tuần thánh. Bánh đã trở nên Mình, thân xác Chúa Giêsu là lương thực cho tâm hồn đức tin con người. Chúa Giêsu đã trở nên bánh cho con người. Phép lạ bánh hóa ra nhiều liên tục hiển thị không cùng cạn trong mọi thời gian.

Linhmục Alfred Delp trong nhà tù Đức quốc xã đã có suy tư:“ Bánh, lương thực của ăn quan trọng, tự do quan rọng hơn, nhưng quan trọng nhất là sự trung thành liên tục và sự cầu nguyện không ngừng nghỉ.“

2. Cơn cám dỗ ma qủi bày ra cho Chúa Giêsu nơi tường thành đền thờ: „ Nếu Ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình cuống đi, vì có lời chép rằng: Ngài đã ra lệnh cho các Thiên Thần đến với Ông, và chư vị đó sẽ nâng đỡ ông trên tay, để ông khỏi vấp vấp chân vào đá.“

Cũng cái bẫy giăng ra để thử thách bản tính kiêu ngạo con người Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu không đế xỉa đến cái bẫy đó, mà trả lời thẳng vào cám dỗ.

Chúa Giêsu đối lại thẳng thừng: „Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi.“

Cám dỗ này ngày xưa ma qủi bày ra cho Chúa Giêsu. Nhưng cũng là câu hỏi hay đúng hơn là cám dỗ cho con người chúng ngày hôm nay về tính kiêu ngạo muốn đặt Thiên Chúa là đối tượng đem phân tích thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, mà không thể tìm ra Thiên Chúa ở nơi đó.

Trước hết việc phân tích thử nghiệm đặt điều kiện chối bỏ Thiên Chúa, tức là đặt mình ở trên Ngài.  Con người chúng ta bỏ qua sang một bên chân trời tình yêu thương và tiếng nói thầm trong tâm hồn. Chỉ còn công nhận kết qủa của phân tích thử nghiệm trong tay mình thôi. Ai suy nghĩ tin tưởng như thế, họ tự cho mình là Thiên Chúa, và hạ thấp không chỉ Thiên Chúa, nhưng cả thế giới người khác và chính mình.

Cuộc cám dỗ Chúa Giêsu từ trên cao tường thành đền thờ mở ra tầm nhìn hướng về thập gía. Chúa Giêsu Kitô không gieo mình từ nơi cao tường thành đền thờ xuống bên dưới thấp. Ngài không nghe lời cám dỗ nhảy từ nơi cao xuống nền đất bên dưới. Ngài không thử thách Thiên Chúa. Nhung ngài đã đi xuống sâu vào cõi sự chết, trong đêm tối của cô đơn bị bỏ rơi không được chở che.

Ngài đã dấn thân bước vào tình yêu Thiên Chúa cho con người. Vì thế Ngài biết, qua bước nhảy đó ngài sẽ chỉ rơi vào bàn tay nhân lành tràn đầy tình yêu thương của Thiên Chúa thôi. Cung cách sống như thế làm nhớ lại lời Thánh Vịnh 91: Ai tin tưởng dõi theo ý Thiên Chúa, người đó không bị rơi vào biến cố sợ hãi hùng, không bị bỏ rơi. Vì họ biết lý do nền tảng của thế giới là tình yêu. Và Thiên Chúa chính là tình yêu.

3. Cám dỗ thứ ba : „Ma qủi đưa Người lên núi cao, và chỉ cho Người xem thấy mọi nước thế gian và vinh quang của những nước đó, rồi nó nói với Người rằng: Tôi sẽ cho Ông tất cả những cái đó, nếu ông sấp mình thờ lạy tôi.“

Cám dỗ về vinh quang quyền lực này ngày xưa ma qủi bày ra cho Chúa Giêsu. Nhưng cũng vẫn hằng bày ra thử thách trong Hội Thánh, nơi con người chúng ta ngày nay.

Chúa Giêsu đã không màng tới cám dỗ, bẫy ma qủi giăng bày ra, mà còn cho ma qủi thẻ đỏ đuổi nó đi:“ Ngươi phải thờ lạy Thiên Chúa ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài.“

Quyền lực của Chúa Giêsu không là quyền lực cai trị. Nhưng là quyền lực của đấng chịu đau khổ, bị đóng đinh chết trên thập gía và sau đó sống lại từ cõi chết.

Đất nước vương quốc của Chús Giêsu không phải là vương quồc quyền lực trên trần gian với những vinh quang hào nhoáng như ma qủi trình bày chỉ vẽ ra. Nước Thiên Chúa phát triển qua sự hy sinh khiêm nhường, từ bỏ mọi sự theo Chúa, tin theo Chúa Ba Ngôi, và tuân giữ những giới răn của Người.

Chúa Giêsu nói với chúng ta cũng như ngày xưa Ngài đã nói với ma qủi, với Thánh Phero và với hai môn đệ trên đường Emmaus: Nước Thiên Chúa không phải là nước ở trần gian. Nước Thiên Chúa là ơn cứu rỗi cho con người. Chúa Giêsu mang tình yêu Thiên Chúa đến cho con người trên trần gian.
 (Cảm hứng từ:
-Joseph Ratzinger, Benedickt XVI., JESUS von Nazareth, Herder  2007, 2. Kapitel., S. 54-74
- Joachim Gnilka, Das Matthaeusevangelium, 1,1-3,48, Sonderausgabe, Herder 2000, S. 82-93)

***+***

Những cám dỗ vẫn hằng luôn bao quanh con người, bao quanh trong đời sống xã hội đạo đời từ ngày Ông Bà nguyên tổ, dưới nhiều hình thức, mầu sắc khác nhau, như Đức thánh cha Phanxico đã có nhận xét ngày lễ Tro mở đầu mùa chay 2014, ngài nói:

”Chúng ta đang sống trong một thế giới ngày càng giả tạo, trong một nền văn hóa quan tâm tới ”hành động”, tới những gì là ”hữu dụng” trong đó vô tình chúng ta loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi chân trời của chúng ta.

Mùa chay kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức, hãy nhớ rằng chúng ta là thụ tạo, chứ không phải là Thiên Chúa”.

Mùa Chay 2014









  
  

 






BƯỚC CHÂN TRUYỀN GIÁO


Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
 
Cách đây hơn 400 năm các vị Thừa Sai từ Âu Châu, nước Pháp, Ý, Tây ban Nha, Bồ đào Nha, vượt biển mang hạt giống Tin Mừng của Chúa vào quê hương đất nước Việt Nam.

Từ những cửa biển Phố Hiến, Hội An, cửa Bàng, cửa Hà Tiên...các vị Thừa Sai đã đặt chân trên khắp miền đất nước Việt Nam từ Nam chí Bắc. Bước chân của các ngài ra đi tung vãi tin mừng bình an, tin mừng tình yêu thương của Chúa giữa lòng xã hội Việt nam cho con người. Những bước chân đó của các ngài, được đón nhận quảng đại rộng rãi nơi người dân, nhưng họ cũng đã phải trải qua những gian lao thử thách và bị bắt bớ, trục xuất rồi còn bị tuyên án hành quyết xử tử.

Máu của các vị Thừa Sai tử đạo đổ ra trên quê hương đất nước Việt Nam đã không trở thành vô ích. Trái lại, nhờ thế hạt giống tin mừng vào Chúa đã trổ sinh kết qủa tươi tốt: Giáo hội Công giáo Việt Nam đã và đang thành hình lớn mạnh trong lòng xã hội đất nước. Giáo hội Công giáo Việt Nam tuy nhỏ, vẫn là thiểu số với hơn kém 8% dân số trong nước, nhưng về mặt tinh thần lại là một thành phần có tiếng nói chỗ đứng được công nhận, nhất là mặt kỷ luật luân lý, tình bác ái xã hội.

Gíao hội Công giáo Việt Nam lớn mạnh với những cơ cấu nhà cửa, thánh đường, Dòng tu. Nhất là các Dòng Tu Nam Nữ phát triển sầm uất về số lượng hình thái Dòng Tu, số người trẻ chọn nếp sống đời tu sỹ ngày cành đông. Đang khi các Dòng tu Nam Nữ bên Âu châu ngày càng sút giảm về số lượng, số người trẻ tuổi chọn đời sống tu trì từ hai ba chục năm nay hầu như không còn nữa, số Tu sỹ tuổi tác cao ngày càng nhiều thêm ra. Hình ảnh nhà dòng nơi đây thật ảm đạm: số tu sỹ gìa yếu ra đi thì nhiều, số người vào từ rất ít nhỏ giọt tới không có nữa. Nhiều nhà dòng, tu viện phải đóng cửa thu nhỏ gọn lại hoặc bán, hay hiến tặng cho việc bác ái từ thiện.

Nhiều Tu viện dòng khổ tu có từ hằng trăm năm nay, bây giờ vì không còn người vào tu nữa cũng như thiếu hụt tài chánh, đành phải giải tán, trao cơ sở lại cho Giáo phận.

Tu viện Nothgottes im Rheingau, thuộc Giáo phận Limburg, là một trường hợp điển hình. Và để cho cơ sở Tu viện không bị mai một hay bị tàn phá cho mục đích trần tục, Giáo phận Limburg đã tìm mời những dòng tu bên các nước khác đến ở để tiếp tục nếp sống tu trì nơi Tu viện. Và nhà Dòng Xitô Châu Son, Đơn Dương, Lâm Đồng bên Việt Nam đã nhận lời mời kêu gọi của Giáo phận sang cư ngụ sinh hoạt nếp sống tu trì cầu nguyện ở nơi đây.

Tu viện Nothgottes

Năm 1390 một ngôi nhà nguyện đã được gia đình qúy tộc Broemnser xây lên để kính thờ Chúa cứu Thế đang đổ mồ hôi máu như trong đêm ở vườn Cây dầu Gietsemani năm xưa. Theo truyền khẩu, một nông dân làm ruộng cho vị qúy tộc Broemser đang lúc làm ngoài đồng ruộng đã được ơn nhìn thấy thị kiến này, và đã kêu lên Noth Gottes. Lời kêu cứu của ông ta đã được lắng nghe. Ngôi nhà nguyện này là tiền thân của Tu Viện Nothgottes sau này.

Đến thế kỷ 15. ngôi thánh đường hành hương được mở rộng thêm ra, và từ 1449 những người đi hành hương đến nơi Noth Gottes được lãnh nhận ơn Toàn xá.

Lại cũng có sử sách ghi lại truyền khẩu vào đầu thế kỷ 14. xảy ra bệnh dịch ở vùng này. Trong hoàn cảnh đau khổ thất vọng bị bệnh dịch, người dân chạy vào khu rừng và dựng ngôi nhà ẩn trú trốn bệnh trong cơn khốn khó. Nơi này họ đã tụ tập lại đọc kinh cầu nguyện cùng Thiên Chúa xin Ngài cứu chữa, và họ đã được nhậm lời. Và từ đó thành tên gọi Nothgottes.

Khoảng từ năm 1620 và 1622 Dòng khổ tu  Capuzino chi nhánh Dòng Phanxico được thành lập  ở Nothgottes. Dòng khổ tu Capuzino phát triển nếp sống tu trì ở đây cho tới thời kỳ tục hóa năm 1813.

Khoảng giữa những năm 1932 và 1938 Nothgottes các Tu sỹ dòng khổ tu trở lại thành Tu Viện. Nhưng năm 1951 các Tu sỹ bỏ ngôi Tu viện này trao lại cho Giáo phận. Giáo phận Limburg sử dụng khu nhà Tu viện Nothgottes làm nhà tĩnh tâm, nhà học hỏi về đạo đến năm 2006. Từ năm 2006 đến 2012 Hội Dòng Tám Mối Phúc Thật đến cư ngụ đời sống tu trì trong Tu viện Nothgottes. Nhưng sau đó họ cũng rời bỏ nơi này.

Từ năm 2002 Tu viện Nothgottes là một phần nằm trong danh sách Gia sản quốc tế của Unesco thuộc phía trên vùng giữa thung lũng lưu vực sông Rhein.

Giáo phận Limburg không muốn để Tu viện bỏ trống, nên đã  đi tìm mời gọi có Dòng Tu nào muốn đến ở ngôi tu viện này không. Và Dòng Xitô Châu Sơn, Đơn Dương bên Việt Nam đã đáp ứng lời mời gọi của giáo Phận Limburg đến cư ngụ sống đời tu trì cầu nguyện ở Tu Viện Nothgottes từ tháng Chín 2013.

Đan viện Xito Châu Sơn, Đơn Dương

„Đan Phụ Viện Thánh Mẫu Châu Sơn tại Đơn Dương Lâm Đồng là một Dòng tu chiêm niệm theo truyền thống Xitô, trực thuộc Tòa Thánh Rôma. Dòng Châu Sơn Đơn Dương phát xuất từ Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn Nho Quan Ninh Bình và là thành viên của Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam.

Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam bắt đầu nhen nhúm từ tâm nguyện của linh mục thừa sai  Henri Denis (1880-1933) : “muốn làm thày dòng và giúp đào luyện cho có thày dòng Việt Nam”. Năm 1912 đang khi làm cha xứ họ đạo Nước Mặn (Thừa Lưu), ngài viết thư trình Đức Cha E. G. Allys Lý, Giám mục giáo phận Huế : “…Lý tưởng mà con mơ ước là được làm tu sĩ tông đồ tại An Nam, nơi đó Thiên Chúa cần được một số người nhận biết, yêu mến và phụng sự (cách triệt để hơn). Họ có nhiệm vụ làm cho mọi kitô hữu nhận thức rằng lý tưởng đan tu không phải là một ‘chuyện đời xưa’ nhưng nó còn hiện thực và hiện thực hôm nay cũng như đời xưa”.

Trong cuộc sống thường ngày tại họ đạo Nước Mặn và sau đó tại chủng viện An Ninh, ngài ra sức tập làm thầy dòng và chuẩn bị cho công cuộc vĩ đại : sáng lập Dòng Nam chiêm niệm trên đất nước Việt Nam.

Ngày 15.08.1918, Nhà Dòng Đức Bà Việt Nam được khai sinh tại Phước Sơn, Quảng Trị, trong giáo phận Huế. Trong sắc chỉ thành lập Dòng, Đức Cha E. G. Allys Lý xác định : Mục đích chính của tu sĩ dòng này là nên hoàn thiện trong đời sống thiêng liêng qua con đường chiêm niệm và hy sinh. Mục đích thứ hai là cầu nguyện và hy sinh cho ơn cứu độ lương dân”.

Từ một dòng thuộc quyền giáo phận, năm 1935, toàn thể tu sĩ Phước Sơn khấn trọng thể gia nhập Dòng Xitô thuộc quyền Toà Thánh. Từ con số hai vào buổi sơ khai, đến lúc này cộng đoàn Phước Sơn đã lên đến bảy mươi tu sĩ. Như một cây đủ tầm vóc, Dòng Đức Bà Vlệt Nam bắt đầu đâm chồi nẩy lộc um tùm kỳ diệu.

Đúng lúc đó, Đức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng tha thiết ao ước có một Dòng Nam chiêm niệm trong giáo phận Phát Diệm mà ngài vừa đảm trách “để nên như cây thu lôi thiêng liêng, cùng với Nhà Dòng Kín, bênh đỡ giáo phận bằng lời cầu nguyện và hãm mình”. Ngài mời gọi và thu xếp để ngày 08.09.1936, Dòng Phước Sơn khai sinh nhà con tại xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình : đó là Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn Nho Quan, hay Dòng khổ tu Châu Sơn như quần chúng thường quen gọi.

Từ một cộng đoàn non trẻ, Dòng Châu Sơn không ngừng củng cố, phát triển và lớn mạnh. Đời sống chuyên cần cầu nguyện, sự vui vẻ hy sinh và tính cần cù lao động của các tu sĩ đã khiến Nhà Dòng nhanh chóng trở thành “tiếng kêu” vang lên từ nơi sơn lâm chướng khí. Khắp giáo phận Phát Diệm và các giáo phận miền Bắc đều nghe biết về Dòng Châu Sơn. Rất nhiều người gồm linh mục, thày giảng, chủng sinh, giáo dân từ khắp nơi tìm đến đan viện cầu nguyện, tĩnh tâm và tìm hiểu ơn gọi chiêm niệm. Hầu như tuần nào cũng có người xin gia nhập cộng đoàn. Rất nhiều người đã nhờ lời cầu nguyện và sự trợ giúp tận tình của Nhà Dòng mà được ơn lạ. Dân chúng kéo đến làm ăn sinh sống chung quanh đan viện ngày một đông. Từ đó hình thành nhiều họ đạo thuộc quyền đan viện.

Cộng đoàn nghĩ đến việc thành lập nhà mới. Quả nhiên năm 1953, hoàn cảnh lịch sử tạo điều kiện thuận lợi cho các tu sĩ thực hiện ý định trên. Một số tu sĩ vào Nam thành lập cộng đoàn Châu Sơn Nam, tạm thời cư trú tại họ đạo Phước Lý (Thành Tuy Hạ, Biên Hòa). Tháng 06.1957, cộng đoàn Châu Sơn Nam di chuyển đến ‘miền đất hứa’ : đồn điền Canhkina ở huyện Đơn Dương, tỉnh Tuyên Đức (nay là Lâm Đồng) trong giáo phận Sàigòn. Đồn điền toạ lạc trên một ngọn đồi thuộc cao nguyên Lang Biang, ở độ cao trung bình l050 mét. Khí hậu tinh khiết. Đất đai mầu mỡ. Núi rừng hùng vĩ trùng điệp, bạt ngàn bóng thông. Cảnh quan tuyệt mỹ, yên bình tĩnh mịch, rất phù hợp vớl lý tưởng đan tu. Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn được thành lập tại Đơn Dương. Bề Trên các cấp và Toà Thánh phê chuẩn việc thành lập này.

Ngày 27.07.1961, cộng đoàn hân hạnh được Thánh Bộ Dòng Tu ban sắc thiết lập Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương thành “Đan viện tự trị” (Monasterium in prioratum sui iuris). Và cha Đan Viện Trưởng tiên khởi là linh mục đan sĩ Stêphanô Trần Ngọc Hoàng đắc cử vào ngày 12.l0.1962. Cha Đan Viện Trưởng có cái nhìn thấu suốt, trực giác cao và am hiểu thực tế. Cha dựa vào anh em và cùng với anh em khẩn trương đưa cộng đoàn phát triển về mọi mặt.

Trước những thành tựu đáng khích lệ của cộng đoàn Châu Sơn tại Đơn Dương, Đại Hội toàn Dòng Xitô năm 1963 nhất trí nâng Đan viện tự trị Châu Sơn cùng với hai Đan viện Phước Sơn và Phước Lý lên hàng “Đan Phụ viện” (Abbatia). Thánh Bộ Dòng Tu châu phê quyết định này qua văn thư ngày 13.11.1963.“  (Theo www. Đan Viện Xito Chau Sơn, Đơn Dương)

Tu viện Nothgottes ở Ruedesheim vùng Eibingen ngày xưa là tu viện của các tu sỹ Dòng khổ tu. Bây giờ các Tu sỹ chiêm niệm Dòng Xitô Châu Sơn Đơn Dương sang sinh sống nếp sống tu trì chiêm niệm nơi đây thật rất qúa xứng hợp

Ngôi tu viện sau những thăng trầm đã trải qua bao thay đổi về hình thức nếp sống sinh hoạt đạo đức nơi đây. Sau những năm tháng vắng bóng tu sỹ cũng như lời cầu kinh tiếng hắt ca tụng Thiên Chúa, bây giờ ngôi tu viện cổ kính này lại sống động trở lại qua những sinh hoạt chiêm niệm cầu nguyện của các Tu Sỹ dòng chiêm niệm Xitô. Sức sống đạo đức đã trở lại cho ngôi Tu viện, cho vùng Nothgottes được sinh động có ánh sáng niềm hy vọng chiếu tỏa lan ra.  

Hiện nay có sáu Tu Sỹ, gồm 4 cha và hai Thầy, trong có cựu Đan viện phụ Đức, sang cùng ở Tu Viện Nothgottes. Và sáu thành viên Xitô Châu Sơn nữa cũng sẽ sang cùng sinh sống với anh em trong Tu Viện Nothgottes.

::::::::::::::::::::::::::::::::::::::

Không dám so sánh các Tu Sỹ Châu Sơn từ Việt Nam sang bên Đức ở Tu viện Nothgottes với những Vị Thừa Sai từ Âu châu ngày xưa sang truyền giáo bên Việt Nam. Nhưng sự hy sinh dấn thân của các Tu Sỹ Xitô Châu Sơn Việt Nam bây giờ là hoa trái ân đức Chúa ban cho nhờ công lao, giòng máu đào của các Vị Thánh tử đạo Thừa sai ngày xưa trên quê hương đất nước Hội Thánh Việt Nam.

Xin ngả mũ kính chào các Cha, các Thầy Dòng Xitô Châu Sơn Đơn Dương đã quảng đại hy sinh dấn thân rời bỏ quê hương, như các Vị Thừa Sai ngày xưa, sang sinh sống đời tu trì chiêm niệm nơi xứ lạ về mọi phương diện giữa lòng xã hội Âu châu văn minh tân tiến, cùng đang trên đà xuống dốc nếp sống về đạo đức cũng như các gía trị tinh thần.

Sự dấn thân hiện diện của các Cha, các Thầy và nếp sống khổ hạnh cùng lời kinh cầu nguyện của các Cha, các Thầy không là bước cản trở gây dị ứng cho đời. Nhưng là nhân chứng cho Thiên Chúa giữa dòng đời sống, và là ngọn lửa đức tin cho đời.

Địa chỉ Tu Viện:
Nothgottes 2
65385 Ruedeshiem am Rhein
  
 

     

CHIA SẺ

GIÁO HỘI

MẸ MARIA - THÁNH GIUSE - CÁC THÁNH

VĂN HÓA

J.H

TRANG CA NHẠC

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Affiliate Network Reviews