Thứ Tư, ngày 23 tháng 4 năm 2014

CHÂN PHÚC GIOAN PHAOLÔ II, VỊ BẢO TRỢ CÁC GIA ĐÌNH!



Xin trích 3 chứng từ tri ân viết từ Ý gởi đến Văn Phòng Án Phong Chân Phước và Hiển Thánh cho Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

... Thư thứ nhất đề ngày thứ tư 15-2-2012.

Con là Anna Rita Meloni, mẹ của Leonardo 22 tuổi, sinh viên ngành kỹ sư. Ngày 28-12-2011 con trai con bị tai nạn lưu thông trầm trọng. Chiếc xe hư tan tành nhưng con trai con không hề hấn gì, kể cả không bị một vết trầy! Con xác tín rằng chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã can thiệp cứu sống con trai con. Thật thế. Vài ngày trước tai nạn, đã xảy ra hiện tượng sau đây. Hôm ấy con ở nhà, có cả con trai con nữa. Bỗng con nghe một tiếng động lớn. Con quay lại thì thấy bức ảnh treo trên tường bị rớt xuống. Đó là bức ảnh Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II còn trẻ đang giơ tay ban Phép Lành Tòa Thánh cho cả gia đình con. Con rất buồn vì thấy bức ảnh rơi nằm dưới đất, nhưng ngạc nhiên biết bao khi cầm lên thì thấy bức ảnh không hề hấn gì! Con đưa bức ảnh cho Leonardo xem và nói: ”Sẽ xảy ra điều gì đó, nhưng chúng ta sẽ được cứu sống!”

Con xin thêm một chi tiết khác. Vào buổi chiều xảy ra tai nạn, bên trong chiếc xe có cuốn sách của Antonio Socci ”Caterina”. Con bỏ sách này trong xe để đọc mỗi khi ngừng lái xe. Con liền lấy cuốn sách và vài vật dụng khác trong xe rồi đem về nhà. Mấy ngày sau, khi mở sách ra đọc thì ngạc nhiên biết bao, con thấy bên trong sách có ngăn bức ảnh Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II kèm theo lời nguyện đã được Tòa Giám Quản Roma chuẩn y. Nhìn thấy bức ảnh, con càng thêm xác tín rằng, vào ngày xảy ra tai nạn, chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã âu yếm bảo trợ và cứu sống Leonardo.

Con xin bày tỏ cùng Cha lòng tri ân chân thành của con, hỡi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kính yêu, về ơn lành Cha đã cầu bầu cùng Chúa cho chúng con. Xin Cha tiếp tục hiện diện với tình yêu thương trong gia đình con. Con cũng đặc biệt cầu nguyện cho tất cả các bạn trẻ luôn nhiệt thành yêu mến Cha. Con yêu mến Cha biết bao, hỡi vị Giáo Hoàng thánh thiện của chúng con.

... Thư thứ hai đề ngày thứ sáu 17-2-2012.

Con là Lara Facchini. Lần thứ nhất Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ra tay cứu giúp con diễn ra vào thời điểm ngài từ trần. Vài tháng trước đó con phải chịu một bạo hành tính dục khiến con vô cùng khiếp sợ khi phải ở nhà một mình hoặc phải đi ra ngoài một mình. Con trở thành một người luôn bám sát vào người thân trong gia đình! Các chữa trị tâm sinh lý lẫn thuốc men không đưa đến hiệu quả nào đáng kể. Chúa Nhật 3-4-2005 - hôm sau ngày Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II từ trần - con tự cảm thấy có sức mạnh lớn lao, và con ra khỏi nhà một mình để mua vé đi từ Milano về Roma. Tại nhà ga xe lửa con gọi điện thoại cho hôn phu hỏi xem anh có thể đến với con được không. Anh hiểu ngay tức khắc là có chuyện gì đó lớn lao lắm đang xảy ra. Kể từ giây phút ấy, con nắm trở lại trong tay cuộc đời con. Con không bao giờ quên cái kinh hoàng ghê tởm con trải qua, nhưng con cất nó vào văn khố và con khởi sự cuộc sống như trước.

Lần thứ hai Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II can thiệp vào cuộc đời con xảy ra cách đây không lâu. Tháng 5 năm 2011 con mất đứa con đang ở tháng thứ hai. Đây là cuộc mang thai đầu tiên rất mong muốn và chờ đón. Đến tháng 10, người ta tặng con lời kinh Tuần Cửu Nhật đọc cùng Đức Gioan Phaolô II. Cùng với hiền phu, chúng con làm Tuần Cửu Nhật để xin Chúa cho con một món quà đẹp nhất vào dịp Lễ Giáng Sinh. Vào ngày vọng lễ Giáng Sinh, con đến nhà thương lấy kết quả cuộc phân tích trước đó. Và con ngạc nhiên biết bao khi biết mình đã mang thai với ngày chính xác là 8-12-2011!

Giờ đây bào thai đã được 12 tuần lễ và mọi sự tiến triển tốt đẹp. Hàng tháng, hiền phu con và con đều làm Tuần Cửu Nhật với Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Hàng ngày, chúng con cầu nguyện cùng Đức Bà Mân Côi Pompei. Chúng con xin Đức Mẹ MARIA cho mọi sự tốt đẹp hầu con có thể ôm chặt vào vòng tay đứa con bé bỏng thân yêu của chúng con. Đã không biết bao nhiêu lần con kêu cầu cùng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và mỗi lần đều được ngài ra tay cứu giúp con. Quyền năng chuyển cầu của ngài thật lớn lao! Đối với con, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã là Vị THÁNH!

... Thư thứ ba đề ngày thứ tư 18-1-2012.

Con là Sandra Maconi 35 tuổi và có 4 đứa con. Tháng 5 năm 2011 kết quả cuộc khám nghiệm cho biết con bị ung thư vú. Con bắt đầu ngay các cuộc chữa trị bằng hóa chất. Và hôm nay, ngày 18-1-2012, các bác sĩ nơi nhà thương bách khoa Modena cho biết là con đã khỏi bệnh! Con là người luôn kính mến Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và chúng con đã thành khẩn kêu cầu cùng ngài. Con tin chắc mình đã nhận được phép lạ khỏi bệnh nhờ lời chuyển cầu của Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II!

... KINH XIN ƠN NHỜ LỜI CHUYỂN CẦU CỦA ĐỨC CHÂN PHÚC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

Lạy Ba Ngôi Chí Thánh, chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo Hội Đức Chân Phúc Gioan Phaolô II và biểu dương nơi người lòng ưu ái của tình phụ tử Chúa, vinh quang thánh giá Đức KITÔ và sự huy hoàng của Thánh Thần Tình Yêu. Nhờ sự phó thác vô điều kiện của người nơi lòng thương xót vô biên của Chúa và nơi sự chuyển cầu từ mẫu của Đức Mẹ MARIA, người đã cho chúng con một hình ảnh sống động của Đức GIÊSU Chăn Chiên Nhân Lành và đã chỉ cho chúng con đường nên thánh, chiều kích thanh cao của đời sống kitô thường ngày, là con đường duy nhất đạt tới niềm hiệp thông vĩnh cửu với Chúa. Nhờ lời chuyển cầu của người, xin Chúa ban cho chúng con, tùy theo thánh ý Chúa, ơn chúng con van nài, với niềm hy vọng mãnh liệt người sẽ được nâng lên hàng Các Thánh của Giáo Hội.

(”www.karol-wojtyla.org”, Ioannes Paulus P.P.II, Karol Józef Wojtyla, Beatificationis et Canonizationis Servi Dei, Totus Tuus ego sum, Maria, et omnia mea tua sunt! Testimonianze)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Nguồn: Viet Vatican 

Chủ Nhật, ngày 20 tháng 4 năm 2014

CÂY NẾN CHÚA PHỤC SINH


Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long 


Trong đêm canh thức đón mừng Chúa phục sinh cây nến phục sinh được đốt sáng lên và long trọng rước vào nhà thờ với lời ca tụng: Lumen Christi - Ánh sáng Chúa Kitô.

Cây nến phục sinh được đúc bằng sáp pha với chất sáp mật ong. Cây nến này to lớn cao hơn mọi cây nến khác trong nhà thờ. Tập tục cây nến phục sinh có từ thời xa xưa. Thánh Hieronimo trong thư gửi cho thầy Phó tế Praesidius năm 384 đã nói đến cây nến phục sinh.

Tập tục truyền thống cây nến phục sinh này đã có từ thời chưa có đạo công giáo nơi người lương dân trước đó rồi. Trong lễ nghi kính thờ thân thánh thời cổ xa xưa bài ca ngợi thánh thi thuộc vể lễ vật dâng kính.

Cây nến phục sinh nguyên thủy là một lễ vật dâng kính được đốt cháy và bài kinh ca ngợi được hát xướng lên trong đêm mừng Chúa Giêsu phục sinh. Bài kinh ca ngợi này là bài bằng tiếng Latinh với câu đầu Exultet - Mừng vui lên tương tự như một bài giảng công bố tin mừng Chúa phục sinh.

Chất sáp cây nến được đúc làm bằng chất sáp của ong tỏa mùi hương thơm. Chất sáp làm nên cây nến là hình ảnh tượng trưng cho thân xác con người Chúa Giêsu Kitô, hay biểu hiệu cho thân xác trong sáng tinh tuyền Chúa Giêsu sống lại từ cõi kẻ chết. Đang khi ngọn lửa là hình ảnh bản tính Thiên Chúa chiếu tỏa sáng làm cho chất sáp cây nến từ từ tan chảy ra thành nước.    

Cây nến phục sinh không chỉ có tươmg quan nguồn gốc kính thờ thần thánh nơi lương dân thời xa xưa, nhưng còn có tương quan nguồn gốc trong Do Thái giáo nữa. Ngày xưa khi dân Do Thái được Thiên Chúa giải thoát ra khỏi cảnh sống nô lệ bên Ai Cập, họ đi trở về quê hương Do Thái luôn có cột lửa đi đầu chiếu sáng dẫn đường cho toàn dân đi qua biển đỏ, đi trong sa mạc.

Cũng vậy Chúa Giêsu Kitô biểu hiệu qua cây nến phục sinh thắp sáng là cột lửa chiếu sáng dẫn đầu đoàn chiên Hội Thánh Chúa băng qua vùng thung lũng tối tăm tội lỗi.

Trên cây nến Chúa phục sinh có những dấu hiệu được khắc ghi vẽ: hai chữ Alpha và Omega, niên hiệu của năm, cây thập gía với năm đấu đinh mầu đỏ. Những dấu hiệu này được khắc ghi vẽ trên cây nến phục sinh từ thế kỷ thứ chín.

Chữ Alpha là mẫu tự khởi đầu trong bảng mẫu tự của chữ Hy lạp, nói lên ý nghĩa: Chúa Giêsu là khởi đầu của công trình sáng tạo mới.

Chữ Omega là mẫu tự sau cùng trong bảng mẫu tự Hy lạp, nói lên ý nghĩa : Chúa Giêsu là tận cùng trong công trình sáng tạo.

Cây thánh giá với năm dấu đinh nói lên Chúa Giêsu Kitô đã bị đóng đinh trên hai bàn tay hai bên trái và phải, trên đôi chân, nơi lồng ngực bị đâm thủng, và trên đỉnh đầu bị đóng đội mão gai nhọn.

Những con số của năm niên lịch nói lên Thời gian là của Chúa.

Cây nến Chúa phục sinh được dựng cắm trên cung thánh trong thánh đường ngày lễ mừng Chúa phục sinh đến ngày lễ mừng Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống được tắt đi và dựng bên cạnh giếng nước rửa tội.

Cây nến phục sinh trong năm được đốt thắp lên vào dịp có lễ Rửa tội cho em bé hay người lớn, dịp lễ an táng.

Cây nến phục sinh truyền đi sứ điệp: Chúa Giêsu Kitô đã sống lại. Ngài đã chiến thắng sự chết. Sự sống lại của Ngài xóa tan bóng tối sự dữ tội lỗi. Ánh sáng mạnh hơn bóng tối.

Ngọn lửa Cây nến Chúa phục sinh nói lên: Chúa Giêsu là ánh sáng trần gian, như lời Ngài đã từng khẳng định.

Ánh sáng của Ngài không làm chói mắt, nhưng mang đến hơi nóng sự đầm ấm an ủi cho tâm hồn con người.

Mừng lễ Chúa phục sinh 2014


Thứ Bảy, ngày 19 tháng 4 năm 2014

CHÚA PHỤC SINH


Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long


Lễ Chúa Giêsu phục sinh, một công trình sáng tạo mới

Hằng năm Hội Thánh công gíao mừng lễ Chúa Giêsu phục sinh từ cõi kẻ chết. Trong đêm thánh phục sinh, đêm canh thức đón mừng lễ Chúa phục sinh, bài tường thuật về việc Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ cùng con người được đọc đầu tiên.

Việc này có ý nghĩa gì ?

Lễ mừng Chúa Giêsu phục sinh là lễ sự sáng tạo mới. Chúa Giêsu đã sống lại và Người không chết nữa. Với sự sống lại, Ngài đã mở cánh cửa tối tăm sự chết cho sự sống mới tràn vào.

Nhà chiêm niệm văn hào Kitô giáo Tertuliano hồi thế kỷ thứ ba đã có suy niệm về sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô: „ Anh em đã được an ủi, máu và thân xác anh em qua Chúa Giêsu Kito đã có được chỗ trên trời và trong nước Thiên Chúa.“

Một khía cạnh mới đã mở ra cho con người. Sự sáng tạo trở nên lớn cùng trải rộng ra hơn. Lễ phục sinh là ngày của công trình tạo dựng sáng tạo mới. Vì thế, Hội Thánh khởi đầu nghi lễ canh thức đón mừng lễ Chúa phục sinh với việc ôn lại sự sáng tạo cũ thuở ban đầu, để nhớ lại cùng học hỏi hiểu nhận ra rõ ràng công trình sự sáng tạo.

Bài tường thuật việc tạo dựng vũ trụ cùng con trong sách Sáng Thế (1, 1-31), nhấn mạnh Thiên Chúa tạo dựng mọi sự từ hư không do lời Ngài phán: Hãy có. Và mọi sự liền có.

Bài tường thuật sự sáng tạo diễn tả một hình ảnh toàn thể theo thứ tự trong sáu ngày, và ngày thứ bảy là ngày nghỉ ngơi thong dong tự do cho Thiên Chúa và loài thụ tạo trong công trình sáng tạo. Sự sáng tạo là không gian cho sự gặp gỡ của tình yêu và sự tự do.

Ánh sáng được Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa tạo dựng đầu tiên trước hết mọi công trình vào ngày thứ nhất công trình sáng tạo. (St 1, 3).  Đang khi mặt trời, mặt trăng cùng các ngôi sao được sáng tạo vào ngày thứ tư như chiếc đèn soi chiếu trên bầu trời. Những hành tinh này do Thiên Chúa tạo dựng. Chúng mang sắc thái bản chất của thần thánh, nhưng chúng không phải là thần thánh. Chúng là vật chiếu tỏa ánh sáng, qua đó sự vinh quang của Thiên Chúa được phản chiếu tỏa lan ra trên trần gian trong vũ trụ.

Tường thuật về ánh sáng có ý nghĩa gì cho công trình tạo dựng trên trần gian?

Theo ý nghĩa vật lý, ánh sáng xóa tan bóng tối, tạo điều kiện cơ cho sự sống, cho hội ngộ gặp gỡ, cho thông thương giao tiếp.

Theo ý nghĩa tinh thần tâm linh, Ánh sáng chiếu soi mang đến sự hiểu biết, dẫn lối tìm về sự chân thật, về thực tế. Và như thế giải thoát khỏi bóng tối đưa đến sự tự do cùng sự phát triển.

Ánh sáng vì thế cũng là ấn tượng cảm nhận cho sự tốt lành, sự thánh thiện. Thiên Chúa tạo dựng ánh sáng thông truyền sứ điệp: Ngài đã tạo cho vũ trụ một không gian sự hiểu biết và sự chân thật, như không gian của sự gặp gỡ và tự do, như không gian của sự tốt lành và tình yêu.

Chúa Giêsu phục sinh vào ngày thứ nhất trong tuần. Ngày thứ nhất công trình sáng tạo vũ trụ, Thiên Chúa đã tạo dựng ánh sáng xóa bỏ bóng tối bao trùm không gian vũ trụ thuở ban đầu, như Ngài truyền lệnh: Hãy có ánh sáng. Và liền có ánh sáng.

Đêm tối Chúa Giêsu bị bắt, bị lên án đã qua. Mặt trời bị bóng tối che phủ ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh chết trên cây thập tự, đêm tối trong huyệt mồ chôn thân xác Chúa Giêsu trong lòng đất cũng đã qua.

Ngày thứ nhất trong tuần bắt đầu trở lại, công trình tạo dựng sáng tạo mới bắt đầu trở lại: „Hãy có ánh sáng“ , như Thiên Chúa phán và „ liền có ánh sáng“. Chúa Giêsu Kitô chỗi dậy ra khỏi nấm mồ tối tăm sự chết vào ngày thứ nhất trong tuần. Ánh sáng sự sống tràn lan tỏa chiếu soi xóa tan bóng tối: Sự sống mạnh hơn sự chết. Sự tốt lành dũng mạnh hơn sự dữ sự xấu, tình yêu thắng vượt sự hận thù, sự chân thật vượt lên trên sự giả dối.

Bóng tối đêm đen của những ngày buồn thương sầu thảm đau khổ trước đó đã bị xua tan, khi Chúa Giêsu Kito đứng dậy từ huyệt mồ người chết đi ra sống lại, và trở thành ánh sáng tinh tuyền trong lành của Thiên Chúa.

Với sự phục sinh sống lại của Chúa Giêsu Kitô luồng ánh sáng mới được tạo thành. Ánh sáng mới này mang đến sự sống mới cùng chiến thắng xóa tan bóng tối đêm đen tội lỗi.

Đây là ngày Chúa đã lập ra cho con người chúng ta tất cả: Lumen Christi! Deo gratis.

Lễ mừng Chúa Giêsu phục sinh 2014

Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

CÁI KHỐ CỦA CHÚA JESUS TRÊN THẬP GIÁ


Thập giá là một dụng cụ giết người hết sức dã man, thường được các đế quốc cổ Hy Lạp và cổ La Mã sử dụng.  Đây là một loại cực hình đặc biệt mà người La Mã và Hy Lạp chỉ dùng riêng cho các nô lệ hoặc dân các nước thuộc địa nổi loạn chứ không áp dụng cho các công dân của họ.  Trước khi bị đóng đinh, các tội nhân không phân biệt nam nữ, đều bị lột trần truồng, tuyệt đối không có một mảnh vải nhỏ nào che thân.  Khi bị treo trên thập giá, sức nặng của cơ thể làm cho các vết đinh đóng trên tay chân bị căng xé khiến tội nhân bị đau nhức cùng cực nhưng không chết.  Tội nhân phải sống để chịu những cơn đau buốt liên tục hành hạ trong một thời gian dài.  Chỉ khi nào tội nhân kiệt sức không thể nâng đầu lên được nữa thì đầu sẽ cúi gằm xuống khiến cằm đụng vào ngực. Lúc đó tội nhân sẽ từ từ bị nghẹt cổ họng và chết vì ngộp thở (air-suffocation) chứ không chết vì bị chảy hết máu.
Trong trường hợp muốn cho tội nhân chết sớm hơn, bọn lính hành hình dùng cán giáo đập gẫy xương ống chân của tội nhân khiến cho tội nhân không thể nâng thân mình lên, toàn thân sẽ rũ xuống và sẽ chết ngộp trong giây lát. Chúng ta cũng nên nhớ rằng trong ba người cùng bị đóng đinh một lượt với Jesus, chỉ một mình Jesus đã không bị lính La Mã đập gẫy ống xương chân.  Nếu Jesus bị đập gãy ống xương chân thì lịch sử nhân loại đã đổi khác và khá hơn bây giờ nhiều.  Sở dĩ Jesus may mắn thoát chết vì có nội tuyến cứu bồ là Đại úy La mã chỉ huy toán lính hành hình hôm ấy tên Longinus. Y nguyên là một tín đồ bí mật của Jesus. (Mark 15: 39 và 27 :54,  Luke 23 : 47).  Theo học giả Gregory of Nyssa thì Nicodemus, Joseph of Arimathia và Đại úy Longenus đều là những tín đồ bí mật của Jesus (secret followers of Jesus). Riêng Đại úy Longenus về sau làm Giám mục tại thành Capadocian. Nicodemus là nghị viên quốc hội Do Thái (Jewish Councellor - John 3 : 1- 22)  Khi còn ở Ephram, Nicodemus bí mật viết thư cho vợ của Jesus là Magdalena  báo cho biết Jesus sắp bị quốc hội Do Thái bắt để giao cho quân La mã xử tội  (John 11 : 53) .
Địa điểm hành hình tội nhân bằng thập giá thường ở những nơi công cộng như dọc đường lộ hoặc trên đồi cao để công chúng dễ thấy.  Hình phạt xử tử bằng thập giá vừa là một hình phạt về thể hình giống như lăng trì (rất đau đớn và chết chậm) nhằm mục đích khủng bố tinh thần đám dân nô lệ và vừa là một nhục hình nhằm sỉ nhục tội nhân vì suốt trong một thời gian dài tội nhân bị phơi thân trần truồng trên thập giá truớc mặt công chúng.
 Sau khi chết, xác nạn nhân không được đem đi chôn mà đều bị vứt ra các bãi hoang cho chó rừng hoặc kên kên ăn thịt. Cho nên, nếu không có đàn em tay trong đến cứu, Jesus chỉ có thể ở một trong hai trường hợp : Hoặc thoát chết và bỏ lỡ cơ hội chịu chết chuộc tội cứu thế, hoặc đã bị quân La mã vứt xác cho chó rừng ăn thịt chứ không còn nguyên thân xác sống lại đàng hoàng đụợc. Nếu sống lại với thân hình không nguyên vẹn thì Jesus đã trở thành quỉ nhập tràng chứ không phải Ngôi Lời Nhập Thể! Giả sử do một phép thần thông nào đó, Jesus đã sống lại và bay lên trời đúng như Thánh Kinh Tân ước mô tả thì ngày nay Jesus cũng mới bay được 2/3 đoạn đường từ trái đất đến sao Bắc Đẩu mà thôi,vì sao này cách chúng ta 3000 năm ánh sáng!
 Lịch sử Tây phương ghi nhận nhiều vụ hành hình bằng thập giá.  Vào thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên, hoàng đế Alexander the Great của Hy Lạp đã xua quân tiến chiếm thành Tyre.  Vì bị dân thành chống cự, Alexander đã ra lệnh đóng đinh 2000 dân của thành này.  Vụ thứ hai rất nổi tiếng xảy ra năm 71 trước Công Nguyên, đó là vụ viên tướng La Mã Marcius Crassus ra lệnh đóng đinh 6000 nô lệ có liên quan trong cuộc nổi loạn của nô lệ Spartacus.  Sáu ngàn cây thập giá mang xác người đã được dựng lên dọc theo con đường vài chục dặm từ Cupua đến Rome!
Đến thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, triều đại Constantine ra luật hủy bỏ lệnh cấm đạo Ki Tô và bỏ luôn hình phạt dã man này.
Hiển nhiên, Jesus là một trong số những nạn nhân đã bị người La Mã xử tội bằng cách đóng đinh trên thập giá.  Thế nhưng, người La Mã sau này lại không nhận tội giết Chúa mà lại đổ cho dân tộc Do Thái đã giết Ngài! Đó là nguyên nhân chính yếu gây nên họa diệt chủng Do Thái triền miên trong gần hai ngàn năm qua.
Dưới thời bị La Mã đô hộ, người Do Thái không có quyền xử tử bất cứ tội nhân nào mà không có phép của chính quyền La mã. Khi Do Thái còn độc lập thì theo tục lệ và luật pháp cổ truyền, tử tội bị dân chúng ném đá cho đến khi thấy tội nhân không nhúc nhích cựa quậy gì nữa.  Dân tộc Do Thái chưa bao giờ giết người bằng cách đóng đinh nạn nhân vào thập giá.  Dân Do Thái quả đã không giết Jesus và kẻ thật sự giết Ngài là đế quốc La Mã.
          Học giả Do Thái Leonard C. Yasseen, tác giả cuốn "The Jesus Connection to triumph over Anti-Semistism"- (154 pages, Crossroad NY 1985) đã viết: " Từ nhiều thế hệ , danh từ Messiah (Ki Tô) đã truyền đời trong dân Do Thái , theo tiếng Hebrew, có nghĩa là vị vua được Thiên Chúa xức dầu chúc phúc sẽ cứu dân Do Thái khỏi bị áp bức.  Trong thời của Jesus, dân Do Thái mong chờ Chúa Cứu Thế sẽ đập tan quyền lực của đế quốc La mã và phế bỏ vị vua hiện hữu đang cai trị Do Thái để thay thế bằng hậu duệ của minh quân David"  For generations, the word that had been passed down among Jews that through the intervention of the Messiah (Greek word: Christos) which in Hebrew means the annointed King,  God would redeem Israel from oppression. The Messiah was expected in Jesus' day to destroy the power of Rome over Palestine to replace the existing king with a descendant of David - page 30).  "Sau khi Jesus chết, niềm tin Ngài là Chúa Cứu Thế bị lung lay vì theo truyền thống Đạo Do Thái không có Chúa Cứu Thế Chết. (After his death that their belief in Jesus as their Messiah was shakenened, for Judaism had no tradition of a dying Messhiah - page 31)
Bốn thế kỷ sau cái chết của Ngài trên thập giá, hoàng đế La Mã Constantine đã dùng cây thập giá giết Ngài để làm huy hiệu cao quý cho cả đế quốc.  Constanine tuyên bố: "Dưới dấu hiệu thập giá, ta sẽ chinh phục thế giới". (In Hoc Signo Vinces) Constantine xua quân đi chinh phục tới đâu truyền đạo Kitô tới đó.  Chẳng bao lâu, toàn đế quốc La Mã trở thành các nước có đa số dân theo đạo Kitô.  Ai theo đạo thì được các quân lính mang huy hiệu chữ thập bảo vệ, ai kháng cự tất nhiên sẽ phải chịu hình phạt.  Dần dần các dân theo đạo cảm thấy cây thập giá như một thứ bùa hộ mạng và hoàn toàn quên mất thực chất của nó là một dụng cụ giết người cực kỳ hiểm ác.  Họ bắt đầu nhìn cây thập giá như biểu hiện cho tình yêu đau khổ của Chúa Jesus (the symbol of Christ's suffering love) và cũng từ đó họ gọi cây thập giá là THÁNH GIÁ (The Holy Cross).
Tại các nhà thờ, những bài kinh ca ngợi Thánh Giá xuất hiện:  "Chúng tôi kính mừng Cây Thánh Giá là cây đã chuộc tội chúng tôi, là cây lành thánh sang trọng, là đơn linh nghiệm, là tàu vượt biển, là chìa khóa mở cửa thiên đàng, là cành cây đầy búp bông hoa quả, là cây đã chở mình Chúa tôi.  Chúng tôi trông cậy cây thánh giá đưa chúng tôi qua khỏi gian nan tới nước thiên đàng bên cạnh Chúa!".
  Trong các nhà thờ hồi đó không có ảnh tượng của Chúa và các thánh. Thực sự vào thời đó chưa có nhà thờ (church) hay đại thánh đường (cathedral) mà chỉ là những phòng hội (synagogue) không có bàn thờ hay một ảnh tượng nào. Các tín đồ đến nhà hội nghe những tín đồ khác   thuyết trình một đề tài nào đó về đạo, rồi họ cùng nhau cầu nguyện chung. Lúc đó chưa có ai biết hành nghề linh mục, làm lễ xong cho bổn đạo ăn chút bánh dính răng rồi thu tiền khán giả xem lễ như bây giờ.
Từ thế kỷ 5 sau Công Nguyên, các họa sĩ của nhà thờ bắt đầu vẽ hình cây thánh giá trơn tru, nhưng dưới chân thánh giá có hình một con chiên màu trắng.  Con chiên đó tượng trưng cho Chúa Jesus vì trong thánh kinh Chúa Jesus được gọi là Con Chiên của Thiên Chúa (The Lamb of God).
Theo cổ tục đạo Do Thái, mỗi khi muốn tạ lỗi với Thiên Chúa, người ta giết một con chiên (cừu non) hay dê làm vật hy sinh thay cho mình để xin Thiên Chúa tha tội.  Bản thân Chúa Jesus được tín đồ coi như là "một con chiên của Thiên Chúa" đã chịu chết trên thập giá làm "của lễ hy sinh cao quí vô cùng" để chuộc tội cho toàn thể loài người (The Redeemer of the whole mankind !).
Sang thế kỷ thứ 6, các họa sĩ nhà thờ tiến thêm một bước là vẽ hình Jesus mặc áo dài trắng (long tunic), hai tay dang ra trên thanh gỗ ngang, hai chân chụm lại và "đứng" lơ lửng trên thánh giá.  Hai tay hai chân của Ngài để lộ những dấu đinh rướm máu.  Cũng trong thế kỷ thứ 6, Chúa Jesus bắt đầu được tôn xưng là Vua và gọi ngài là "Chúa Jesus - Vua" (Le Christ-Roi).
 Cây thập giá khổ hình ngày xưa bỗng nhiên biến thành cái ngai cao quí hơn bất cứ cái ngai vàng nào khác của các vua chúa thế gian.  Chúa Jesus đã nghiễm nhiên trở thành "vua của các vua" (King of kings) trong toàn đế quốc La Mã.  Họa sĩ nhà thờ vẽ ảnh Chúa đứng dựa vào thánh giá, nét mặt nghiêm nghị oai phong như không còn một chút đau đớn nào trên cơ thể.  Nét mặt Ngài tỏa ánh hào quang của kẻ đã chiến thắng cái chết và đã sống lại hiển vinh để cai trị toàn thế giới cho đến muôn đời!  Hình ảnh này của Chúa Jesus đã tồn tại qua nhiều thế kỷ trong các nhà thờ tại Âu Châu.
Sau khi giáo hội Công Giáo Hy Lạp tách rời khỏi Công Giáo La Mã vào thế kỷ 11 để trở thành Chính Thống Giáo, các họa sĩ Hy Lạp có sáng kiến vẽ hình Chúa bị đóng đinh vào thánh giá.  Đầu của Chúa đội mão gai, máu chảy đầm đìa trên trán và trên khuôn mặt đau khổ.  Những dòng máu chảy dài từ hai bàn tay xuống tới hai bên nách.  Nhát giáo đâm cạnh sườn đã tạo thành một vết thương mở toang, máu từ tim ngài chảy xuống thành một dòng chảy lớn trên những xương sườn.  Khắp thân thể Chúa còn in hằn lên rất nhiều vết roi bầm tím.  Các họa sĩ nhà thờ đua nhau đem hết tài năng của mình để lột tả mọi sự đau đớn mà Chúa phải gánh chịu vì tội lỗi loài người trên thập giá.
  Nhưng mọi tài năng và mọi sự tưởng tượng phong phú của các họa sĩ cuối cùng đã phải dừng lại ở... CÁI KHỐ !  (the loin-cloth)  Không một họa sĩ nào dám đi xa hơn cái khố của Chúa Jesus trên thập giá.  Trải qua nhiều thế kỷ, tới nay vẫn không có một ai dám đủ can đảm khắc họa đúng sự thật hình ảnh của Chúa trên thập giá.  Sự thật là bọn lính La Mã đã lột hết quần áo của Ngài.  Chúng đóng đinh treo Ngài lên thập giá với một thân xác trần truồng.  Cái khố ta thấy trên tượng Chúa hiện nay là một sản phẩm hoàn toàn ngụy tạo.  Cái khố đó tuy nhỏ xíu nhưng lại là một tấm màn vĩ đại che đậy toàn bộ bí mật của đạo Kitô.
Gần hai ngàn năm qua, giáo hội Kitô không dám vén cái khố của Chúa lên vì sợ để lộ cái vết cắt da qui đầu của Chúa.  Bởi Chúa là công dân Do Thái trăm phần trăm, là tín đồ của Moises trăm phần trăm, là đệ tử của John Baptist trăm phần trăm và là nạn nhân của đế quốc La Mã trăm phần trăm!  Ngài là một con người bình thường như mọi người chúng ta. Ngài chỉ khác chúng ta ở chỗ Ngài được bọn đế quốc thần thánh hóa bằng huyền thoại Ki Tô (Jesus was Chisted) để chúng núp đằng sau  trục lợi.  Bản thân Ngài chẳng được lợi lộc gì trong việc ngài được chúng tôn lên làm Thiên Chúa, chỉ có bọn đế quốc được hưởng lợi mà thôi.  Đạo của Chúa được bọn đế quốc truyền đi bằng gươm giáo của những đoàn quân lê-dương, bằng dàn hỏa, bằng tàu bè súng đạn của chủ nghĩa thực dân cũ mới và với đủ thứ mưu chước bịp bợm tinh vi.
Người ta vẫn tiếp tục đóng khố cho Chúa để che dấu mọi sự thật về Ngài, bởi lẽ nếu mọi người biết rõ sự thật về Chúa thì đạo Kitô sẽ không còn nữa!

(Phỏng theo THE GREAT COVER-UP của cựu linh mục Dòng Tên  Peter de Rosa.  Tác giả viết bài này để thay lời nói đầu cho tác phẩm VICARS OF CHRIST).



Thứ Bảy, ngày 12 tháng 4 năm 2014

TỪ MIỀN THẤP LÊN CAO



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long 



Hằng năm người Công giáo mừng Chúa Giêsu vào thành thánh Gierusalem ngày Chúa nhật lễ Lá.

Nhưng đâu là ý nghĩa ngày lễ mừng này?

Lễ mừng này không chỉ có nguồn gốc nơi Kinh Thánh, lịch sử của đức tin, nhưng còn nói đến ý nghĩa về cuộc đời Chúa Giêsu, Đấng sáng lập Hội Thánh Chúa ở trần gian từ hơn hai ngàn năm qua.

Chúa nhật lễ Lá theo nguyên ngữ tiếng Latinh Dominica in Palmis de passione Domini,. Chúa nhật này là chúa nhật thứ sáu và cũng là chúa nhật cuối cùng mùa chay, cùng là Chúa nhật trước lễ Chúa Giêsu phục sinh. Từ Chúa nhật lễ Lá bắt đầu Tuần Thánh, theo tập tục nếp sống đức tin của Hội Thánh Công gíao và Giáo Hội Chính Thống.

Ngày Chúa nhật lễ Lá nhắc nhớ lại biến cố Chúa Giêsu tiến vào thành Thánh Giêrusalem như một vị Vua. Khi Ngài vào tới thành Thánh được dân chúng hoan hô vạn tuế Hosanna đón chào như một vị Vua (Ga 12,13-15; Mt 21,1-11; Lk 19, 28-40.)

Dân chúng đón chào Vua Giêsu đang cỡi con lừa đi vào không chỉ qua lời tung hô vạn tuế Hosanna, nhưng họ còn cầm cành lá vạn tuế chiến thắng vẫy chào, cùng trải khăn áo ra ngoài đường phố đón mừng Ngài nữa.

Cành lá vạn tuế chiến thắng xưa kia ở nhiều nơi là „ cây thánh thiêng“. Ở vùng biển Địa trung hải cành lá vạn tuế chiến thắng là hình ảnh của sự sống, của chiến thắng vinh quang. Với người Do Thái còn mang ý nghĩa đặc biệt về hình ảnh nói lên sự độc lập và của Vua chiến thắng khải hoàn (1 Maccabe 13,51, 2 Maccabe 14,4). Vì thế, cuộc tiến vào thành Giêrusalem với cành lá vạn tuế tung hô, dưới mắt người Roma là một hình thức đe dọa thách thức quyền uy thống trị đế quốc của họ.

Cành lá vạn tuế theo Thánh Vịnh trong Kinh Thánh mang ý nghĩa chỉ về sự công chính: Người công chính  của Thiên Chúa xanh tươi như cánh là vạn tuế (Tv 92,13). Cây cành vạn tuế có rễ ăn sâu trong dòng nước sự sống. Nơi đó người công chính cũng bắt nguồn đời sống mình.

Trong Lễ Lều Trại của người Do Thái, cành lá vạn tuế là hình ảnh của sự vui mừng. Lễ Lều Trại nhắc nhớ đến cuộc xuất hành đi trong sa mạc của dân Do Thái từ Ai Cập trở về quê hương đất nước Do Thái. Trong thời gian đi trong sa mạc họ cư ngụ trong các lều trại.  

Con lừa theo sách Tiên tri Sacharia 9,9 là hình ảnh của vị Vua hòa bình không có quyền hành sức mạnh, là hình ảnh của sự khiêm nhường, của sự nghèo khó.

Chúa Giêsu cỡi lừa vào thành Giêrusalem nói lên hình ảnh mang ý nghĩa: Ngài không xây dựng nước Thiên Chúa trên quyền hành sức mạnh, Ngài không dùng sức mạnh quân sự làm cách mạnh chống lại người Roma. Quyền hành của Người là một hình thái khác: Đó là sự nghèo khó của Thiên Chúa, nền hòa bình của Thiên Chúa, là sức mạnh ơn cứu chuộc phần linh hồn con người.

Lời tung hô Hosanna dân chúng gào thét đón mừng Vua Giêsu, theo nguồn gốc là lời kêu xin: Xin hãy cứu giúp! Vào lễ Lều Trại (Laubtenhuettenfest) của người Do Thái, vị Tư Tế khi tiến vào nơi bàn thờ tế lễ nói lời kêu xin „Hosanna“ xin cho được nước mưa từ trời cao rơi xuống trên trần gian. Và lời cầu xin Hosanna từ đó biến thành lời thố lộ sự mừng rỡ hân hoan.

Lời tung hô Hosanna dân chúng gào thét ngày Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem nằm trong ý nghĩa lời vui mừng ca tụng Thiên Chúa đang tiến vào thành Giêsrusalem. Đồng thời cũng còn mang ý nghĩa nói lên niềm hy vọng vào thời giờ của vị cứu thế đang đến, cùng xin vương quốc của vua David và vương quốc của Thiên Chúa thể hiện mới lại trên dân Israel.

Để kỷ niệm cuộc tiến vào thành Giêrusalem của Chúa Giêsu ngày xưa, từ thế kỷ thứ 4. Giáo hội Chính Thống đã có truyền thống rước cành lá ngày Chúa nhật lễ Lá.

Truyền thống lễ nghi rước Lá ngày Chúa nhật lễ Lá nơi đạo Công giáo có muộn hơn từ thế kỷ thứ 8.

Ngày nat, cuộc rước kiệu Lá mang ý nghĩa cảm động rất đặc biệt hằng năm diễn ra ở Giêsusalem. Vào ngày này hàng ngàn người hành hương với cành lá trên tay cùng nhạc cụ do Dòng Phanxico tổ chức rước kiệu từ Vườn Cây Dầu đi qua cổng thành tiến vào phố cổ thành Giêrusalem.

Các Thánh sử viết phúc âm Chúa Giêsu tường thuật chi tiết cuộc hy sinh khổ nạn Chúa Giêsu và sự phục sinh sống lại vào dịp lễ mừng Vượt Qua của người Do Thái. Thánh Luca Thánh sử diễn tả con đường của Chúa Giêsu như con dường hành hương leo lên cao từ miền Galile lên Giêrusalem.

Theo phương diện hình thể địa lý, biển hồ Galile miền Nazareth ở vị trí 200 mét thấp hơn mặt nước biển, còn Giêrusalem nằm ở vị trí trung bình 760 mét cao hơn mặt nước biển. Như thế, Chúa Giêsu từ nơi ngài sinh sống ở miền Galile dưới thấp vượt đường leo lên Giêrusalem trên vùng cao nói lên ý nghĩa: sự đi lên cao của Ngài nơi đền thờ Giêrusalem là địa điểm, mà Thiên Chúa cho danh tính Ngài được cư ngụ, như trong sách Dân số 12, 11, 14,13 đã nói đến.

Cuộc hành hương leo lên đền thờ thành Giêrusalem là cao điểm sự hy sinh chịu chết được dương lên cao treo trên thập gía của Chúa Giêsu mở đầu với biến cố cỡi con lừa tiến vào thành Giêrusalem ngày lễ Lá.



Chúa nhật lễ Lá 2014


Thứ Ba, ngày 08 tháng 4 năm 2014

HÃY Ở LẠI TRONG THẦY NHƯ THẦY Ở LẠI TRONG CÁC CON



... Thầy Gabriel Casas 39 tuổi đang thụ huấn năm thứ hai thần học tại chủng viện Saint-Cyprien thuộc giáo phận Toulouse miền Nam nước Pháp. Xin nhường lời cho thầy kể lại lộ trình hoán cải, lãnh bí tích Rửa Tội và gia nhập chủng viện.

Tôi sinh ngày 21-11-1975 tại Maracaibo nằm về mạn Tây Bắc nước Vénézuela. Tôi là anh trưởng của gia đình có 3 người con. Cha Mẹ tôi ly thân vào thời kỳ tôi còn nhỏ. Vào năm 14 tuổi, tôi cân nặng đến 130 ký. Sự kiện này khiến tôi bị mặc-cảm trở thành nhút nhát, khép kín, không có bạn bè và không bao giờ dám ló mặt ra khỏi nhà. Thân mẫu tôi một mình dưỡng dục 3 đứa con gồm tôi, một em trai và một em gái. Từ ngày thân phụ bỏ rơi 4 mẹ con chúng tôi, thân mẫu phải vất vả ngược xuôi làm việc rất nhiều. Do đó tôi lớn lên với mối hận thù chồng chất trong trái tim dành cho thân phụ tôi. Thấy thế, mẹ tôi vô cùng lo lắng nên đưa tôi đi chữa trị nơi một bác sĩ chuyên khoa tâm lý. Cuộc chữa trị kéo dài vài năm nhưng tôi vẫn còn nhút nhát và khổ sở.

Vào năm tôi 17 tuổi, vì thấy tình trạng rối loạn tâm lý đáng thương của tôi, một trong các giáo sư trung học mời tôi theo một khóa học giáo lý của phong trào Con Đường Tân Dự Tòng. Vào thời kỳ ấy tôi chưa được rửa tội và mang đầy thành kiến đối với Giáo Hội Công Giáo. Nhưng bởi vì tôi quá khốn khổ nên tôi làm theo lời khuyên của vị giáo sư. Nơi phong trào Con Đường Tân Dự Tòng tôi ngỡ ngàng khám phá ra mình bước vào một cộng đoàn gồm toàn những người đơn sơ giản dị, hoàn toàn khác biệt nhau. Có người đã rửa tội. Có người chưa. Nhưng tất cả vui vẻ tiếp rước tôi, lắng nghe tôi và hỗ trợ tôi. Bầu khí huynh đệ thân thương này giúp tôi từ từ khám phá ra Giáo Hội Công Giáo và ơn gọi linh mục của tôi. Nó cũng cho phép tôi thoát ra khỏi chính mình. Chỉ vỏn vẹn vào năm sau đó tôi chính thức xin rửa tội, lãnh các bí tích và gia nhập Giáo Hội Công Giáo duy nhất thánh thiện và tông truyền.

Thế rồi vào năm 24 tuổi, tôi bắt đầu khao khát tìm kiếm một lý tưởng. Với tư cách là tín hữu Công Giáo, tôi cảm thấy mình vẫn còn thiếu thốn một cái gì đó. Tiếp đến, tôi đặt tin tưởng nơi một lời khuyên dành riêng cho tôi trong phong trào. Lời này khuyến khích tôi tha thứ và giao hòa với thân phụ tôi. Mặc cho bao nỗi sợ hãi, mặc cho bao thù hận vẫn còn chất chứa đè nặng trong cõi lòng, tôi quyết định đến gặp thân phụ. Người sống không xa chúng tôi bao nhiêu. Gặp người, tôi ngỏ lời xin người tha thứ vì đã dồn ứ không biết bao nhiêu là tư tưởng xấu về người. Tôi nói thẳng với người là tôi không thể yêu người như một người cha, bởi vì người đã không xử sự đúng với tư cách của một người cha. Nhưng lời nói cuối cùng của tôi chính là:
- Với sự trợ giúp của THIÊN CHÚA, giờ đây con có thể tha thứ cho Ba!

Sau biến cố tha thứ giao hòa với thân phụ, tôi đã lôi cuốn được toàn thể gia đình đi theo lộ trình hoán cải của tôi. Trước tiên tôi sung sướng chứng kiến cảnh thân mẫu tôi trở về với Giáo Hội Công Giáo, trở lại nhà thờ tham dự phụng vụ và lãnh các bí tích. Rồi đứa em trai và đứa em gái của tôi cũng bằng lòng xin rửa tội. Ngày hôm nay thì chúng tôi thường xuyên gặp thân phụ chúng tôi. Lộ trình hòa giải này - tôi xin thành thật thú nhận - là chúng tôi không thể nào thực hiện được, nếu không có sự trợ giúp của THIÊN CHÚA, được biểu lộ trong Giáo Hội của Người.

Sau khi kết thúc học trình và hành nghề một thời gian trong lãnh vực xí nghiệp với tư cách giám đốc các tài nguyên nhân bản, tôi bắt đầu lộ trình tìm hiểu ơn gọi linh mục.

Khi đến Pháp vào tháng 11 năm 2006 tôi bắt đầu học tiếng Pháp và hoàn thành một năm dự-cao-học. Sau đó khi học xong năm thứ nhất của chu kỳ đầu tiên nơi chủng viện Toulon, tôi được gởi đi thực tập mục vụ tại các giáo phận Bayonne, Lescar và Oloron. Hai năm sau tôi trở lại chủng viện để hoàn tất chu kỳ học tập đầu tiên. Tháng 9 năm 2012 tôi đến tổng giáo phận Albi để tiếp tục học trình chu kỳ thứ hai nơi chủng viện Saint-Cyprien ở Toulouse để tiến đến thiên chức linh mục. Muôn vàn cảm tạ hồng ân bao la của THIÊN CHÚA nhân lành.

... Đức Chúa GIÊSU phán cùng các môn đệ rằng: ”Thầy là cây nho thật, và CHA Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn. Anh em được thanh sạch rồi nhờ Lời Thầy đã nói với anh em. Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu anh em ở lại trong Thầy và Lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. Điều làm CHÚA CHA được tôn vinh chính là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy” (Gioan 15,1-8).

(”Église d'Albi”, Bulletin bimensuel diocésain des catholiques du Tarn, No 2, 22 Janvier 2014, 141è année, trang 8)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Thứ Bảy, ngày 29 tháng 3 năm 2014

GẮN BÓ VỚI HỘI THÁNH CÔNG GIÁO ROMA



Lm. Daminh nguyễn ngọc Long





Trong Căn phòng lưu giữ những kỷ vật của Tôi tớ Chúa cố hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận ở Koeln có một kỷ vật đặt trong lồng kính trông như một chiếc cặp da mầu nâu. Nhưng không, đó là một tấm bằng da mầu nâu trông giống như một cái cặp. Tấm đó là tấm lót ở bàn giấy chỗ viết cho giấy nằm yên không bị xê dịch.

Tấm lót mầu nâu này ngày xưa ở nơi bàn giấy làm việc của cố Hồng Y Phanxico Nguyễn văn Thuận bên Văn phòng Công lý Hòa Bình trong giáo triều Roma.

Đức cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận , khi còn là Tổng giám mục, ngày 09.04.1994 đã được cắt cử làm Phó chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Công lý Hòa bình. Và từ ngày 24.06.1998 được bổ nhiệm là Chủ tịch Hội Đồng Giáo hoàng về Công lý Hòa bình ở giáo triều Roma.

Trong suốt thời gian làm việc trong giáo triều ở Hội Đồng giáo Hoàng về Công lý Hoà bình, tấm lót da mầu nâu này đã là tấm kê trên bàn giấy của ngài. Hầu như hằng ngày mỗi khi ngồi vào bàn làm việc viết lách hay đọc sách, tay ngài, đều đặt trên tấm da lót dưới bàn giấy. Và biết đâu có khi mệt qúa, ngài cũng đã có lúc gục mặt trên đó ngủ thiếp đi một khoảnh khác.

Nói tóm lại, tấm da lót bàn giấy đó đã theo sát ngài trong trong suốt thời kỳ từ 1994 đến khi qua đời ngày 16.09.2002.

Tấm da lót đó tuy là một vật thể được dùng cho các bàn giấy trong Giáo triều Roma để lót dưới bàn giấy văn phòng. Nhưng nó lại đã trở thành một món đồ vật gắn bó với người đã xử dụng nó một thời gian dài.

Tấm da lót đó lại không phải là bất kỳ tấm da lót nào mua ngoài cửa hàng. Nhưng tấm da lót đó do giáo triều Roma đặt làm dùng cho các văn phòng bàn giấy của giáo triều Roma. Trên tấm da lót đó có khắc vẽ huy hiệu của Tòa Thánh Roma, Vì thế nó có một gía trị riêng khác biệt, như một di tích văn hóa lịch sử.

Và tấm lót da đó của riêng dùng trong các bàn giấy ở giáo triều Roma cũng nói lên sự liên quan gắn bó với đời sống trong giáo triều của Hội Thánh Công giáo Roma. Hình ảnh này cùng ý nghĩa như thế chúng ta cũng thấy ở nơi các cơ quan chính quyền các quốc gia, các hãng xưởng, bàn giấy.  

Lẽ dĩ nhiên, ngày xưa, khi được bổ nhiệm cắt cử vào làm việc trong Văn phòng Hội đồng giáo hoàng về công lý Hoà bình, có lẽ Đức cố hồng Y đã không chú ý đặt nặng đến tâm da lót nơi bàn làm việc của mình. Ngài đã chấp nhận dùng nó như phương tiện, cùng là lề lối làm việc ở nơi đây thôi.

Ngài sống và cung cúc làm việc „như một đầy tớ vô dụng“ được Thiên Chúa và Hội Thánh tin tưởng trao phó với niềm hy vọng cậy trông.

Khi được Thiên Chúa gọi trở về với Ngài, Đức cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận chắc chắn không hề để tâm nghĩ tới những vật dụng trong đời mình bao giờ. Nhưng những người thân thiết cùng làm việc chung kề cận với ngài, nhất là em gái ngài Bà Elisabeth Nguyễn thị Thu Hồng, đã thu dọn cất những vật dụng đời ngài như những kỷ niệm tình thân thiết trong gia đình.

Không ngờ, những vật dụng kỷ niệm cho gia đình về đời cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận lại trở nên những kỷ vật nhân chứng về đời ngài cho nhiều người. Vì từ 2007 Hội Thánh Công giáo đã đang trong tiến trình mở dự án phong Chân phước cho ngài.

Ngài đã được nâng lên hàng Tôi Tớ Chúa, và rồi đây sẽ được tôn phong lên hàng Á Thánh trong Hội Thánh, để mọi người tín hữu Chúa Kitô tôn kính.

Chỉ mình ngài vì những nhân đức, những hy sinh cho tình yêu Chúa, được tôn phong lên hàng anh hùng các Thánh trong Hội Thánh. Còn những vật dụng ngày xưa ngài đã dùng trong đời sống lúc còn sinh thời, chỉ là những kỷ vật, những „nhân chứng“ thôi, cho đời để chiêm ngắm, và có thể nhắc nhớ đến con người, cùng rút ra bài học gương sáng sống nhân đức anh hùng của vị Thánh.

Tấm da lót nơi bàn giấy của vị Tôi tớ Chúa, cố hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận, hiện còn lưu giữ trong Căn phòng ở Koeln là một trong những kỷ vật của đời ngài còn được lưu giữ bảo quản cũng nằm trong ý nghĩa đó.

Tấm da lót nơi bàn giấy làm việc của ngài thời xa xưa từ 1994 - 2002 còn nói lên mối tương quan lòng gắn bó của vị tôi tớ Chúa Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận với Hội Thánh Công giáo Roma rất nhiều. Nhìn tấm da lót chúng ta nhớ đến ngài, nhớ đến lòng dấn thân gắn bó của ngài với Giáo hội. Nhưng không phải chỉ trong thời kỳ làm việc trong Gíao triều Roma, trong Văn phòng Công lý Hòa bình, lòng gắn bó với Giáo hội mới sống động, mới mật thiết keo sơn. Mà còn hơn thế nữa trong lao tù thời trước đó hằng chục năm rồi.

Trong tuần giảng tĩnh tâm cho Giáo triều Vatican mùa chay 2000, Đức cố Hồng Y đã nói lên tình gắn bó keo sơn, mật thiết thế nào của đời một Giám mục trong lao tù với Hội Thánh Chúa Kitô:

„Tôi muốn kết luận bài suy niệm sáng nay với câu chuyện về một kinh nghiệm rất đơn sơ cũng trong thời gian tôi bị cầm tù.

Thật khó tưởng tượng nổi sự kiện: trong những năm tôi bị thở thách cam go (từ sau năm 1975 trở đi), các tín hữu chúng tôi lo âu dường nào, vẫn tìm cách nghe lén Đài Vatican để cảm nghe nhịp đập trái tim của Gíao hội hoàn vũ và liên kết với Đấng kế vị Thánh Phero. Họ làm như thế bất chấp nguy cơ có thể bị phạt hoặc bị tù, vì như thế là nghe „ sự tuyên truyền của ngoại quốc phản động“.

Về sau, chính tôi cũng cảm thấy cùng một kinh nghiệm như vậy. Trong khi tôi bị cô lập ở Hà Nội, thì một ngày kia, một nữ công an mang cho tôi một con cá nhỏ để tôi nấu ăn. Vừa khi tôi thấy tờ giấy bọc con cá, tôi cảm thấy rất vui mừng, nhưng tôi cố nến lòng không biểu lộ ra bên ngoài. Tôi vui mừng không phải vì con cá, nhưng là vì tờ báo bọc con cá: đó là hai trang báo „ Quan sát Viên Roma - Osservatore Romano“ .

Trong những năm ấy, báo này mỗi khi được gửi qua bưu điện Hà Nội, thì thường bị tịch thu và đêm đi cân bán ở quày mua giấy cũ ở chợ. Hai trong báo ấy được dùng để gói con cá nhỏ. Tôi bình tĩnh, không để cho ai thấy, và rửa sạch những trang báo đó để tẩy sạch hết mùi tanh, rồi phơi khô và giữ nó như một thánh tích.

Đối với tôi, trong khi vị biệt giam, những trang báo ấy là một dấu chỉ tình hiệp thông với Roma, với Thánh Phero, với Hội Thánh, và đó là một vòng tay ôm từ Roma. Giả sử không ý thức mình là thành phần của Hội Thánh, có lẽ tôi đã không sống sót nổi.

   Ngày nay, chúng ta sống trong một thế giới đang tìm cách loại bỏ những gía trị của văn minh sự sống, tình thương, và sự thật. Hy vọng của chúng ta chính là Giáo hội vốn là hình ảnh Chúa Ba Ngôi. (ĐHY Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận, Chứng nhân Hy vọng, Dân Chúa 2001, tr. 194-195)

Keo sơn mật thiết cùng tràn đầy hình ảnh sống động và thâm sâu hơn nữa, tưởng khó có thể hơn được.

„ Lạy Thiên Chúa toàn năng và hằng có đời đời,
là Cha và Con và Thánh Thần, con cảm tạ Chúa vì đã ban cho Hội Thánh gương chứng tá anh dũng của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận.
Kinh nghiệm khổ đau trong ngục tù, được ngài sống liên kết với Chúa Kitô chịu đóng đinh, dưới bóng che chở hiền mẫu của Mẹ Maria, đã rèn luyện ngài nên một chứng nhân sáng ngời cho Hội Thánh và toàn thế giới, về sự hiệp nhất và tha thứ, cũng như về công lý và hòa bình.
Con ngưòi dễ thương mến cùng với sứ vụ mục tử giám mục của ngài  tỏa chiếu rạng ngời ánh sáng của đức tin, nhiệt tâm của niềm hy vọng và sức sống nồng ấm của đức ái.
Giờ đây, nhờ lời bầu cử của ngài và theo thánh ý Chúa, xin Chúa ban cho con được ơn đang cầu khẩn,với niềm hy vọng thấy ngài sớm được vinh hiển trên bàn thờ. Amen!“
Địa chỉ liên lạc tới thăm Căn phòng
Stiftung der Celittinen zur hl. Maria
Graseggerstrasse 105 - 50737  Koeln- Longerich
Tel. 0049 (0) 221-974514-51 Email: info@cellitinnen.de
Herr Diakon W. Allhorn: 0221- 97451420
Mùa Chay 2014


Chủ Nhật, ngày 23 tháng 3 năm 2014

HỌC GÌ TỪ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ?


   
Giáp Văn Dương


Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “Trí thức cận thần” để đi trên con đường mới – con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân – thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.

Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.

Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.

Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?

Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.

Trí thức độc lập

Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.

Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.

Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”.

Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền.

Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy “coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ”, tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.

Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.

“Trí thức cận thần”

Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: “Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay… Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết”.

Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một “trí thức cận thần”: Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.

Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.

Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.

Do hành xử như một “trí thức cận thần”, không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.

Bài học cho hậu thế

Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.

Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường “trí thức cận thần” của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.

Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.

Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.

Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần”, và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.

—————————————————

Ghi chú:

1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ “trí thức cận thần” chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.

2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dung cụm từ này trước đó hay chưa.

3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với “trí thức cận thần”, đó là “trí thức phò chính thống”, do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh tế.

4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.

(Nguồn: Blog Giáp Văn)

CHUYÊN MỤC CHIA SẺ

GIÁO HỘI

MẸ MARIA - THÁNH GIUSE - CÁC THÁNH

VĂN HÓA

J.H

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Affiliate Network Reviews