Thứ Bảy, ngày 12 tháng 7 năm 2014

DỤ NGÔN CHO ĐỜI SỐNG



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long   



Trên sân cỏ đời sống

Trong đời sống ai cũng đã sống tri qua những giai đoạn, những biến cố vui buồn, thành công cũng như thất bại.

Những đội tuyển bóng đá tham dự tranh tài World cup 2014 bên Brazil đã và đang sống trải qua những biến cố bất ngờ hân hoan chiến thắng có và thất vọng thua trận phải cuốn gói trở về nhà sớm có.

Những điều đó không phải chỉ là bất ngờ ngoài dự liệu mong muốn, nhưng còn có ý nghĩa chứa đựng sứ điệp, lời nhắc bảo cho đời sống nữa. Nhưng không phải lúc nào, và ai cũng đọc hiểu được sứ điệp lời nhắc bảo qua biến cố mà mình đã trải qua. Vì thế mỗi người đọc hiểu biến cố đã sống tri qua cách khác nhau.
 
Đội tuyển Đức đã vào trận chung kết World Cup 2014
Khi sự việc, biến cố xảy ra trong đời sống, có người không hiểu nhìn ra đó là một biến cố, nhưng cho đó là ảo tưởng, là bị làm cho choáng mắt thôi.

Có người không ngần ngại chối bỏ phủ nhận, cho đó là mơ mộng.

Có người qúa sốt sắng, như thành điên loạn, luôn loan báo rộng rãi cho mọi người khác điều mình hiểu, và cho đó là sứ điệp quan trọng. Hễ ai chê cười thì bị nguyền rủa xỉ vả.

Có người thinh lặng suy nghĩ biến cố sự việc đã xảy ra mang ý nghĩa tích cực gì cho đời sống mình. Và họ còn ghi chép lại thành bài vở như kinh nghiệm qúy báu cho đời sống.

Biến cố bóng đá World Cup 2014 đang diễn ra ở Brazil. Trên sân cỏ trái banh được hai đội tranh giành nhau dẫn lừa đá tung lưới khung thành đội đối thủ đoạt dành chiến thắng cho đội mình.

Hàng trăm triệu người trên khắp thế giới từ hôm 12.06. đến 13.07. 2014 đã và đang chú tâm theo dõi những trận tranh tài biến cố bóng đá World Cup 2014 sôi nổi qua màn ảnh truyền hình. Nhưng họ có những cách thế phản ứng khác nhau.

Có người không màng quan tâm tới cho đó là trò chơi ảo ảnh vô bổ.

Có người chối bỏ không chấp nhận trò chơi đó, cho là mơ mộng điên lọan.

Có người cuồng nhiệt to tiếng ca ngợi đủ mọi cách, hễ ai chê  thì bị chê bai nguyền rủa là người không biết gì hết.

Có người bình tĩnh hơn, vui vẻ hơn không coi đó chỉ là trò chơi môn thể thao. Nhưng hiểu nhận ra cùng rút ra bài học về cung cách sống trong tương quan với người khác trên sân cỏ cuộc đời như tình liên đới đồng đội qua cùng chơi cùng làm việc chung, lòng khiêm nhượng chia xẻ tình người với nhau. Thắng thua là chuyện thường tình trong đời sống, có lên cũng có xuống, không ai mãi mãi ở trên đỉnh cao của thành công chiến thắng, cũng như không ai mất tất cả và mãi mãi bị thất bại.

Bốn thái độ cung cách sống cũng giống tựa như bốn trường hợp trong dụ ngôn Chúa Giêsu nói về người gieo ging tung vãi hạt lúa trên nền đất.

Hạt rơi xuống vệ đường bị chim trời đến mổ hạt ăn mất.
Hạt rơi trên sỏi đá nơi không có đất nhiều, khi nắng nóng lên, cây lúa chết khô héo ngay.
Hạt rơi chỗ bụi gai cây cỏ mọc um tùm làm cho bị  nghẹt, không có ánh sáng chiếu vào, thiếu khí trời nên cũng chết.
Hạt rơi xuống nền đất đồng ruộng tốt nó mọc lên cây lúa tươi tốt mang lại hoa trái nhiều bông hạt lúa mới.

Sự kiện biến cố nào xảy ra trên sân cỏ đời sống cũng đều ẩn chứa sứ điệp của Đấng Tạo Hóa gửi cho con người.

Sứ điệp của Ngài không mang tính chất đe dọa phạt vạ, nhưng mang sâu đậm khía cạnh đào tạo giáo dục cho đời sống con người.

Mùa World Cup 2014

Thứ Bảy, ngày 05 tháng 7 năm 2014

SÂN CỎ BÓNG ĐÁ VÀ ĐỜI SỐNG




Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long


Nói đến Bóng đá, người ta nghĩ ngay đó là bộ môn thể thao tập luyện cho khỏe mạnh, hay một trò chơi thôi. 



Trên sân cỏ thấy hai đội banh gồm 22 người chạy theo giành một trái banh da. Họ cố giành giật, dùng mọi kỹ năng dẫn lừa trái banh đá sút lọt lưới khung thành đối thủ để có được thành tích chiến thắng.

Xem thì như thế. Nhưng bóng đá cũng phản ảnh khuôn mặt thật sự của đời sống. Cuộc chơi thi đấu bóng đá nào cũng đều tỏ lộ niềm vui, hãnh diện cùng nỗi đau buồn, hồi hộp hy vọng và ê chề thất vọng, tiếng cười và nước mắt, tinh thần đồng đội cùng sự hy sinh chiến đấu của từng cầu thủ, chiến thắng và thua cuộc, đôi tay vỗ giơ lên, đầu ngẩng lên cao, và vẻ mặt rũ rượi cúi đầu uể oải hay còn lấy áo khăn che khuôn mặt ủ rũ cùng dòng nước mắt tuôn trào trên khóe mắt đôi má, nhìn xuống nền sân cỏ hay ngồi nằm dài xuống đất…

Như thế, phải chăng có thể tóm tắt trong một dòng chữ: sân cỏ cuộc đời?

Không biết trước sẽ ra sao

Hai đội banh ra sân thi đấu, ai cũng mong dẫn trái banh đá lọt lưới khung thành đối thủ nhiều bao nhiêu có thể, để giành được chiến thắng. Nhưng không ai biết trước được trận đấu sẽ diễn ra như thế nào.

Trên sân cỏ thi đấu dù các cầu thủ trước đó đã tập luyện kỹ càng, nhưng khi đi ra sân thi đấu, yếu tố khí thế năng lực của mỗi người ngày hôm đó là yếu tố giúp họ chơi chạy tập trung đúng vị trí kịp thời đúng lúc , rồi chiến thuật của đối thủ gây bối rối kinh hoàng, hay giúp hăng hái lên, thời tiết mưa nắng mỗi nơi mỗi khác, gío to, nóng nực như bên Nam Mỹ, bên Phi châu, Á Châu, Âu châu, và khán giả ủng hộ hò hét hay phê bình chỉ trích qua những tiếng âm thanh như thổi còi làm nhụt chí mất bình tĩnh, tiếng còi phán quyết của trọng tài điều khiển trận đấu, bị cảnh cáo, bị phạt thẻ vàng, thẻ đỏ, bị té ngã, bị chấn thương…có ảnh hưởng rất nhiều đến tình thần cầu thủ, cùng kết qủa của trận thi đấu.

Như trong đời sống, ai cũng suy nghĩ sửa soạn sắp đặt trước, lên chương trình. Nhưng không ai có thể nắm chắc chắn sẽ xảy ra như thế nào, hay có xảy ra như ý mong muốn không. Sự ngạc nhiên bất ngờ luôn xảy đến trong đời sống.  

Chỉ có một điều chắc chắn Mặt trời luôn luôn chiếu sáng, và trận chơi thi đấu kế tiếp sẽ diễn ra như đã lên chương trình.

Trước trận chơi thi đấu không ai biết trước sẽ diễn tiến như thế nào. Nhưng sau khi trận thi đấu chấm dứt, người ta ồn ào bình luận, chỉ trích cắt nghĩa, tại sao trận thi đấu lại xảy ra như thế này, và đặt gỉa thuyết gía mà cầu thủ A hay B đá như thế này, thì trận đấu đã không xảy ra như thế này….Gía mà Ông bầu đưa cầu thủ này vào sân thi đấu thì phần chiến thắng làm bàn đã ngả về bên đội của Ông rồi…

Người ta khôn ra, thông giỏi lên sau đó, khi sự việc đã xong rồi. 

Trên sân cỏ thi đấu, ai cũng mong muốn có chiến thắng reo hò mừng rỡ. Nhưng thường hay quên: chỉ có một đội chiến thắng, và nơi đó cũng có một đội thua thất trận. Chính vì thế, sự kính trọng nhau, nhất là với đội thua trận là điều nhân bản cần thiết.

Trên sân cỏ thi đấu họ là đối thủ của nhau để giành chiến thắng. Nhưng khi trận thi đấu chấm dứt, các cầu thủ của hai đội là bạn đồng nghiệp nghành nghề bóng đá của nhau. Họ trao áo kỷ niệm cho nhau, ôm hôn bắt tay chúc mừng nhau, an ủi nhau. Thật là hình ảnh thấm đậm tình người.

Trong bóng đá cũng như trong đời sống không phải lúc nào cũng gặt hái chiến thắng thành công. Nhưng thua cuộc chưa phải là tận cùng chấm hết. Trái lại, biết đâu đó cũng là cơ hội hay thúc đẩy vươn lên làm mới lại, như từ đống tro tàn sau trận hỏa hoạn thu dọn xây dựng lại ruộng vườn, đường xá khu nhà ở mới.

Trên sân cỏ bóng đá cũng như trên sân cỏ đời sống, nỗ lực cố gắng cùng niềm hy vọng là chất xúc tác, mức đà giúp cho tinh thần phát triển vươn lên cao.

Tinh thần bắt tay chung cùng làm việc.

Trên sân cỏ bóng đá, một đội banh có 11 cầu thủ cùng chiến đấu chơi chung. Họ chia nhau giữ vai trò vị trí chuyền banh cho nhau, cùng giúp nhau tranh giành banh từ chân đối thủ, chắn bao bọc cho bạn có cơ hội đá trái banh tung lưới khung thành đối thủ. Cầu thủ nào đá banh lọt lưới, họ chạy ngay lại cầu thủ bạn đã chuyền trái banh cho họ đá lọt lưới, họ ôm hôn nhau tỏ sự vui mừng và nói lời cám ơn.

Khi chiến thắng họ hân hoan vui mừng nhẩy nhót ôm đè lên nhau. Vị huấn luyện viên, các cầu thủ dự bị và các người săn sóc đội banh ngồi ở băng ghế chạy nhảy như điên cuồng cùng mừng vui với các cầu thủ học trò, với các bạn đồng đội đã đá lọt lưới khung thành đội banh đối thủ.i Họ cùng nhau nhảy nhót reo mừng chiến thắng.
Cung cách tinh thần này nói lên sự liên kết chung hợp của toàn đội banh. Tuy một cầu thủ đá lọt lưới khung thành có chiến thắng, nhưng đó không là chiến thắng của một cá nhân cầu thủ đó.Nhưng trái lại là của chung toàn đội.

Các cầu thủ đội banh cũng luôn nói lên tâm tư cùng chia sẻ với nhau, khi được phỏng vấn: Cả đội cùng chiến thắng, dù cầu thủ A hay B đã chơi xuất sắc. Cả đội cùng góp sức chơi chung đạt được chiến thắng này.

Hay cả đội cùng chia sẻ sự thất vọng khi thua trận. Họ không đổ lỗi cho ai. Trách nhiệm chung thuộc về toàn đội banh.

Trên sân cỏ cuộc đời, tinh thần cùng chung cộng tác làm việc là yếu tố cần thiết. Nơi các hãng xưởng đều làm việc theo hệ thống dây chuyền. Một khâu đứng dừng lại, những khâu khác cũng bị khựng ngưng lại. Và như thế việc sản xuất hàng hóa cũng bị đình trệ chậm lại.

Nơi các xứ đạo, ít nhất là bên xã hội Âu châu, cung cách chăm sóc đời sống trong xứ đạo không còn kiểu „one man show“ như trước nữa. Cách đây hơn kém 10 năm, ở các xứ đạo nước Đức một mình cha sở có toàn quyền trong xứ đạo về mọi việc. Nhưng bây giờ cha sở là người đứng đầu  một „ Pastoralteam - Đội ngũ làm việc chung lo mục vụ xứ đạo“  gồm nhiều người. Họ họp nhau hằng tuần cùng nhau bàn thảo chia công việc, và cùng có quyết định chung. Cùng nhau làm việc, cùng nhau chia sẻ gánh nặng, cùng nhau vui, cùng nhau buồn, cùng nhau sửa sai làm mới lại.

Đức đương kim giáo hoàng Phanxico đã nói với báo „ Il Messaggero“ về lề lối làm việc của mình“ „ Những quyết định của tôi là hoa trái kết qủa của hội nghị chung các Hồng Y trước đó rồi. Tôi không làm việc một mình.“ kath.net,( 01.07.2014.).

Tiếng còi trọng tài.

Trên sân cỏ thi đấu môn thể thao, chỉ một mình trọng tài có nhiệm vụ và có quyền thổi còi điều khiển trận đấu. Tiếng còi của trọng tài là tiếng nói quyết định cho bắt đầu, tiếp tục hay kết thúc trận đấu.

Tiếng còi của trọng tài là tiếng cảnh cáo khi cầu thủ nào chơi sai luật phạm lỗi, là tiếng nói quyết định, chơi như thế không được, không được chơi tiếp nữa bị loại đuổi phải ra khỏi sân.

Tiếng còi của trọng tài là tiếng quyết định cả về con đường sự nghiệp bóng đá của một cầu thủ, khi bị thổi còi phạt thẻ đỏ. Vì không chỉ bị thải ra khỏi sân chơi lúc đó, mà còn bị treo chân không được tham dự chơi tiếp những trận sau đó nữa.

Trên sân cỏ đời sống, nhiều nước vẫn còn cảnh sát giao thông thổi còi chặn xe lại dành cho xe chiều đi ngược lại, hay cho người đi bộ đi ngang qua đường, hay chặn xe chạy sai luật rồi lập biên bản phạt người lái xe.

Nơi sân đình tòa án, không có tiếng còi quyết định. Nhưng vị chánh án gõ đập búa xuống bàn xử đọc lời tuyên án, sau khi đã nghe thẩm vấn cùng nghiên cứu hồ sơ vụ án.

Trên sân cỏ đời sống, cha mẹ, hay thầy cô dậy dỗ giáo dục không thổi còi phạt, nhưng lời họ nói lên mang sâu đậm tính chất khuyên nhủ, cùng răn đe cảnh giác.

Tiếng còi trọng tài trên sân cỏ chơi thi đấu giữ cho cuộc thi đấu có trật tự được „Fair play“.

Tiếng nói của cha mẹ, của người có trách nhiệm là tiếng nói khuyên nhủ giáo dục. Tiếng nói đó giúp con em bạn trẻ phát triển lớn lên thành người tốt trong xã hội.

***

Những trận thư hùng của các đội tuyển bóng đá của các quốc gia đã cùng đang diễn ra trên các sân cỏ bên nước Brazil, World Cup 2014 đem đến không khí niềm vui mừng hân hoan, hồi hộp hy vọng, và cũng có cả giận dữ thất vọng, và nhất là những bất ngờ thú vị cho mọi người lúc này trên hành tinh trái đất xem trực tiếp truyền hình.

Nhìn nghe những tên tuổi cầu thủ có nhiều tài năng cùng trẻ tuổi chạy chơi điệu nghệ tuyệt vời, gợi lên tình tự hứng khởi nơi nhiều người với lòng khâm phục ngưỡng mộ. Họ được tôn vinh như mẫu thần tượng.

Và nhiều người trẻ mơ ước ngày nào biết đâu mình cũng có thể trở thành như vậy, như Martin Luther King đã phát biểu câu nói thời danh thần thoại“ I have a dream - tôi có một giấc mơ.“.

Mỗi người là công trình bản chính do Thiên Chúa tạo dựng nên. Nơi mỗi người Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, đã phú ban sẵn những tiềm năng nơi họ. Mỗi người có bổn phận sống đời sống mình, phát triển tiềm năng ẩn chứa đó cho bung nở vươn ra.

Ngạn ngữ dân gian có câu khích lệ: “ Có công mài sắt, có ngày nên kim.“ Hay người Đức có thành ngữ: „ Uebung macht den Meister - Luyện tập sẽ trở thành người thợ giỏi .“


World Cup, July 2014

Thứ Tư, ngày 02 tháng 7 năm 2014

TIỂU SỬ HAI TÂN HIỂN THÁNH GIÁO HOÀNG


Nguyên tác: Tiểu sử hai Thánh Gioan XXIII và Thánh Gioan Phaolô II

Bản dịch của VietCatholic4/27/2014

VATICAN - Trong nghi lễ tuyên thánh cho hai vị Giáo hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II hôm nay (27.4.20014) tại quảng trường Thánh Phêrô, Thánh lễ bắt đầu như sau:


Đức Thánh Cha Phanxicô vừa làm dấu thánh giá khai mạc buổi lễ.

Trước hết, Đức Hồng Y Angelo Amato, tổng trưởng Bộ Phong Thánh sẽ tuyên đọc tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan XXIII và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Sau đó, Đức Thánh Cha và cộng đoàn sẽ cùng quỳ gối đọc kinh cầu các thánh xin Chúa đoái thương và gìn giữ Hội Thánh của Ngài trong quyết định quan trọng sắp diễn ra.

Lễ nghi sẽ được tiếp nối với việc các cáo thỉnh viên của án phong thánh tiến lên xin Đức Thánh Cha Phong Thánh cho hai vị là Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII và Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô II.

Phần quan trọng nhất trong lễ nghi ngày hôm nay sẽ diễn ra sau đó với việc Đức Thánh Cha Phanxicô long trọng đọc công thức Phong Thánh và tuyên bố hai vị Chân Phước Giáo Hoàng là Thánh.

Sau đó, các phần của Thánh Lễ ngày Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa sẽ diễn ra như thường lệ.

Kính thưa quý vị và anh chị em, sau đây là phần tiều sử 2 vị Thánh chính thức được công bố hôm nay:

Đức Hồng Y Angelo Amato, tổng trưởng Bộ Phong Thánh đang tiến lên trước Đức Thánh Cha và tuyên đọc tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan XXIII.

Tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan XXIII 

Angelo Giuseppe Roncalli sinh ngày 25 tháng 11 năm 1881, tại Sotto il Monte, thuộc giáo phận và tỉnh Bergamo. Là con thứ tư của gia đình, ngài được rửa tội cùng ngày. Dưới sự dìu dắt của vị linh mục chính xứ xuất chúng, Cha Francesco Rebuzzini, ngài được đào tạo sâu sắc về phương diện Giáo Hội, một sự đào tạo sẽ nâng đỡ ngài trong lúc khó khăn và gợi hứng cho ngài trong các công tác tông đồ.

Ngài được thêm sức và rước lễ lần đầu năm 1889 và gia nhập chủng viện Bergamo năm 1892. Ngài tiếp tục học cổ điển và thần học tại đây cho tới năm thứ hai thần học. Mới chỉ là một thiếu niên 14 tuổi, ngài đã bắt đầu viết nhật ký thiêng liêng và lưu giữ chúng dưới nhiều hình thức khác nhau cho tới ngày qua đời. Sau này, tất cả các nhật ký này đã được gom lại thành cuốn Nhật Ký Của Một Linh Hồn. Chính tại nơi này, ngài bắt đầu thực hành đều đặn việc linh hướng. Ngày 1 tháng 3 năm 1896, vị linh hướng của Chủng Viện Bergamo, Cha Luigi Isacchi, ghi danh cho ngài gia nhập Dòng Ba Phanxicô; ngài khấn luật dòng này ngày 23 tháng 5 năm 1897.

Từ năm 1901 tới năm 1905, ngài theo học Giáo Hoàng Chủng Viện Rôma, nơi ngài được giáo phận Bergamo cấp học bổng cho các sinh viên ưu tú. Trong khoảng thời gian này, ngài hoàn tất một năm nghĩa vụ quân sự. Ngài được truyền chức linh mục ngày 10 tháng 8 năm 1904 ở Rôma, tại nhà thờ Santa Maria in Monte Santo in Piazza del Popolo. Năm 1905, ngài được cử làm thư ký cho tân giám mục của giáo phận Bergamo, là Đức Cha Giacomo Maria Radini Tedeschi. Ngài giữ vai trò này cho tới năm 1914, tháp tùng Đức Cha đi thăm viếng mục vụ và tham gia nhiều sáng kiến mục vụ khác như hội đồng giám mục, viết xã luận cho nguyệt san giáo phận tên là La Vita Diocesana (Sinh Hoạt Giáo Phận), đi hành hương và nhiều công trình xã hội khác nhau. Ngài cũng dạy các môn lịch sử, giáo phụ học và hộ giáo tại chủng viện. Năm 1910, khi duyệt lại qui chế của Công Giáo Tiến Hành, Đức Cha giáo phận trao cho ngài việc chăm sóc mục vụ cho các phụ nữ Công Giáo (phân bộ V). Ngài thường xuyên viết cho nhật báo Công Giáo của giáo phận Bergamo. Ngài cũng là một diễn giả cần mẫn, sâu sắc và hữu hiệu.

Đó là những năm ngài tiếp xúc sâu sắc với các vị thánh giám mục: Thánh Charles Borromeo (mà tác phẩm Atti della Visita Apostolica, được hoàn thành tại Bergamo năm 1575, sẽ được chính ngài phát hành sau này), Thánh Phanxicô de Sales và chân phúc Gregorio Barbarigo. Đó cũng là những năm tháng hoạt động mục vụ vĩ đại bên cạnh Đức Cha Radini Tedeschi. Khi vị này qua đời vào năm 1914, Cha Roncalli tiếp tục thừa tác vụ linh mục của mình trong vai trò giáo sư chủng vidện và phụ tá linh hướng cho nhiều hiệp hội Công Giáo.

Khi Ý tham chiến vào năm 1915, ngài bị gọi thục hành nghĩa vụ quân sự trong tư cách trung sĩ quân y. Một năm sau, ngài trở thành tuyên úy quân đội, phục vụ tại các bệnh viện quân sự tại hậu phương, và phối hợp việc chăm sóc thiêng liêng và luân lý cho các binh sĩ. Lúc chấm dứt chiến tranh, ngài mở một Cư Xá Cho Các Sinh Viên và chính ngài cũng phục vụ làm tuyên úy cho sinh viên. Năm 1919, ngài được cử làm linh hướng cho chủng viện.

Năm 1921 đánh dấu giai đoạn hai trong cuộc đời của ngài: phục vụ Tòa Thánh. Được Đức Bênêđíctô XV triệu về Rôma làm chủ tịch hội đồng trung ương Hội Truyền Bá Đức Tin của Ý, ngài đi thăm nhiều giáo phận và nhiều giới truyền giáo có tổ chức của Ý. Năm 1925, Đức Piô XI cử ngài làm Khâm Sứ Tòa Thánh tại Bulgaria, nâng ngài lên chức giám mục, hiệu tòa Areopolis. Ngài chọn khẩu hiệu giám mục là Oboedentia et Pax (vâng lời và bình an), một khẩu hiệu được dùng làm chương trình cho đời ngài.

Được phong chức giám mục ngày 19 tháng 3, năm 1925, ngài tới Sophia ngày 25 tháng 4. Sau đó, được cử làm Đại Diện Tòa Thánh đầu tiên tại Bulgaria, Đức Tổng Giám Mục Roncalli tiếp tục phục vụ tại đây cho tới năm 1934, thăm viếng các cộng đoàn Kitô Giáo và phát huy các mối liên hệ tương kính đối với các cộng đoàn Kitô Giáo khác. Ngài có mặt và cung cấp nhiều trợ giúp bác ái trong vụ động đất năm 1928. Ngài âm thầm chịu đựng các hiều lầm cũng như các khó khăn của một thừa tác vụ lúc tiến ngừng. Ngài phát triển việc hiểu mình và niềm tự tin cũng như phó thác trong tay Chúa Kitô chịu đóng đinh.

Ngày 27 tháng 11 năm 1934, Ngài được cử làm Đại Diện Tòa Thánh tại Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp. Trách nhiệm mới của ngài bao trùm một khu vực khá rộng. Giáo Hội Công Giáo hiện diện nhiều cách tại Cộng Hòa non trẻ Thổ Nhĩ Kỳ; Cộng Hòa này đang trong diễn trình đổi mới và tự tổ chức. Thừa tác vụ của ngài đối với người Công Giáo khá đòi hỏi và ngài được tiếng trong cung cách kính trọng của ngài và trong việc đối thoại với người Chính Thống Giáo và Hồi Giáo. Lúc Thế Chiến Hai bùng nổ, ngài đang có mặt tại Hy Lạp, lúc ấy đang bị chiến trận tàn phá. Ngài tìm cách thâu lượm tin tức về tù binh chiến tranh và ra tay cứu sống nhiều người Do Thái bằng cách phát hành nhiều chiếu khán quá cảnh cho họ. Ngày 6 tháng 12 năm 1944, ngài được Đức Piô XII cử làm Sứ Thần Tòa Thánh tại Paris.

Trong những ngày cuối cùng của chiến tranh và trong những ngày đầu của hòa bình, Đức TGM Roncalli trợ giúp các tù binh chiến tranh và góp tay phục hồi ổn định cho sinh hoạt của Giáo Hội Pháp. Ngài thăm viếng các đền thờ của Pháp và tham dự các lễ lạy bình dân cũng như các biến cố tôn giáo có ý nghĩa hơn. Ngài chăm chú, khôn ngoan và đáng tin trong cách tiếp cận với các sáng kiến mục vụ mới do các linh mục và giám mục Pháp đưa ra. Ngài không ngừng tìm cách nhập thân tính đơn giản của Tin Mừng, cả khi phải đương đầu với những vấn đề ngoại giao phức tạp nhất. Ý muốn trở thành linh mục luôn nâng đỡ ngài trong mọi hoàn cảnh. Lòng đạo đức sâu sắc của ngài được phát biểu rõ ràng trong các thời điểm cầu nguyện và suy ngắm.

Ngày 12 tháng 1 năm 1953, ngài được tấn phong Hồng Y và ngày 25 tháng 1, ngài được cử làm Thượng Phụ Venic e. Ngài hân hoan được tận hiến quãng đời sau cùng của ngài cho thừa tác vụ mục vụ trực tiếp, một nguyện vọng ngài luôn trân quí trong đời linh mục. Ngài là một mục tử khôn ngoan và đầy sinh lực, sẵn sàng bước theo chân các vị giám mục thánh thiện mà ngài hằng ngưỡng mộ: Thánh Lorenso Giustiniani, thượng phụ tiên khởi của Venice và thánh Piô X. Càng có tuổi, ngài càng tín thác nơi Chúa Kitô, trong bối cảnh một thừa tác vụ tích cực, mạnh dạn và đầy hân hoan.

Sau khi Đức Piô XII qua đời, ngài đựợc bầu làm giáo hoàng ngày 28 tháng 10 năm 1958, lấy tên là Gioan XXIII. Trong 5 năm làm giáo hoàng, ngài xuất hiện với thế giới như là hình ảnh đích thực của Người Chăn Chiên Tốt Lành. Khiêm nhường và hiền lành, tháo vát và đảm lược, đơn sơ và luôn tích cực, ngài đảm nhiệm nhiều công trình bác ái phần xác và phần hồn, thăm viếng tù nhân và người bệnh, chào đón người thuộc mọi quốc gia và tôn giáo, biểu lộ một cảm thức phụ tử tuyệt diệu với mọi con người. Huấn quyền xã hội của ngài chứa đựng trong thông điệp Mẹ và Thầy (1961) và Hoà Bình Trên Trái Đất (1963).

Ngài triệu tập công đồng Rôma, thiết lập Ủy Ban Duyệt Xét Bộ Giáo Luật, và triệu tập Công Đồng Vatican II. Là giám mục Rôma, ngài đi thăm các giáo xứ và các nhà thờ trong trung tâm lịch sử và các khu ngoại thành. Nơi ngài, dân chúng nhận ra sự phản ảnh của benignitas evangelica (lòng nhân hậu của tin mừng) nên đã gọi ngài là “vị giáo hoàng nhân hậu”. Một tinh thần cầu nguyện sâu sắc luôn nâng đỡ ngài. Là sức mạnh lèo lái đứng đàng sau phong trào canh tân Giáo Hội, ngài nhập thân sự bình an của một người luôn tín thác hoàn toàn nơi Chúa. Ngài cương quyết tiến bước trên con đường phúc âm hóa, đại kết và đối thoại, và biểu lộ một quan tâm phụ tử muốn vươn tay ra cho tất cả những con cái cơ cực nhất.

Ngài qua đời tối ngày 3 tháng 6 năm 1963, ngày Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, trong một tinh thần phó thác sâu xa cho Chúa Giêsu, tha thiết được nằm trong vòng tay Người, và được bao bọc bằng lời cầu nguyện của toàn thế giới; dừng như cả thế giới đang quây quần cạnh giường ngài để cùng ngài thở hơi thở yêu thương Chúa Cha.

Đức Gioan XXIII được Đức Gioan Phaolô II phong chân phúc ngày 3 tháng 9 năm 2000 tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô, trong năm cử hành Năm Đại Thánh 2000.

Đức Hồng Y Angelo Amato, tổng trưởng Bộ Phong Thánh đang tuyên đọc tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

Tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II 

Karol Józef Wojtyla, được bầu làm giáo hoàng ngày 16 tháng 10 năm 1978, sinh tại Wadowice, Ba Lan, ngày 18 tháng 5 năm 1920.

Ngài là con thứ ba trong số ba người con của ông Karol Wojtyla và bà Emilia Kaczorowska, người đã qua đời năm 1929. Anh trai của ngài là Edmund, một y sĩ, qua đời năm 1932, và cha ngài, ông Karol, một viên hạ sĩ quan của lục quân, qua đời năm 1941.

Lên 9, ngài được rước lễ lần đầu. Và lên 18, ngài được thêm sức. Sau khi tốt nghiệp trung học tại Wadowice, ngài ghi danh học tại Đại Học Jagellonian ở Krakow năm 1938.

Khi lực lượng chiếm đóng của Quốc Xã đóng cửa trường đại học vào năm 1939, Karol làm việc trong một hầm đá và sau đó trong nhà máy hóa chất Solvay (1940-1944) để kiếm kế sinh nhai và tránh khỏi bị phát vãng qua Đức.

Cảm nhận mình được kêu gọi làm linh mục, năm 1942, ngài bắt đầu theo học đại chủng viện chui của giáo phận Krakow, do Đức TGM Adam Stefan Sapieha điều khiển. Trong thời gian này, ngài là một trong những người tổ chức ra Ban Kịch Sống Động, hoạt động trong bóng tối.

Sau chiến tranh, Karol tiếp tục việc học tại đại chủng viện mới được mở lại, và tại trường thần học của Đại Học Jagellonian cho tới khi được thụ phong linh mục tại Krakow ngày 1 tháng 11 năm 1946. Sau đó, tân linh mục Wojtyla được Đức HY Sapieha gửi tới Rôma, nơi ngài đậu bằng tiến sĩ thần học năm 1948. Ngài viết luận án về đức tin như đã được hiểu trong các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá. Lúc còn học ở Rôma, ngài dành kỳ nghỉ làm mục vụ cho các các di dân Ba Lan ở Pháp, ở Bỉ và ở Hòa Lan.

Năm 1948, Cha Wojtyla trở về Ba Lan và được cử làm phó xứ tại nhà thờ Niegowic, gần Krakow, và sau đó tại nhà thờ Thánh Florian ở trung tâm thành phố. Ngài là tuyên úy đại học cho tới năm 1951, lúc ngài đi học triết học và thần học một lần nữa. Năm 1953, Cha Wojtyla trình luận án tại ĐH Jagellonian về việc có thể đặt cơ sở cho đạo đức học Kitô Giáo trên hệ thống đạo đức của Max Scheller. Sau đó, ngài trở thành giáo sư thần học luân lý tại Đại Chủng Viện Krakow và tại phân khoa thần học của ĐH Lublin.

Ngày 4 tháng 7 năm 1958, Đức Piô XII cử Cha Wojtyla làm giám mục phụ tá của giáo phận Krakow, hiệu tòa Ombi. Đức TGM Eugeniusz Baziak tấn phong ngài tại Nhà Thờ Chính Toà Wawel (Krakow) ngày 28 tháng 9 năm 1958.

Ngày 13 tháng 1 năm 1964, Đức Phaolô VI của Đức Cha Wojtyla làm Tổng Giám Mục Krakow và sau đó, ngày 26 tháng 6 năm 1967, ngài được phong Hồng Y.

Đức Cha Wojtyla tham dự Công Đồng Vatican II (1962-1965) và đưa ra nhiều đóng góp có ý nghĩa trong việc soạn thảo hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng. Ngài cũng tham dự 5 kỳ họp của Thượng HỘi Đồng Giám Mục trước khi được bầu làm giáo hoàng.

Ngày 16 tháng 10 năm 1978, Đức HY Wojtyla được bầu làm giáo hoàng và ngày 22 tháng 10, ngài bắt đầu thừa tác vụ của ngài như là Mục Tử của toàn thể Giáo Hội.

Đức Gioan Phaolô II thực hiện 146 cuộc tông du tại Ý, và trong tư cách Giám Mục Rôma, ngài thăm 317 trong tổng số 322 giáo xứ Rôma. Các cuộc tông du quốc tế của ngài lên tới 104; các cuộc tông du này nói lên quan tâm mục vụ thường hằng của Người Kế Nhiệm Thánh Phêrô đối với mọi Giáo Hội.

Các văn kiện chính của ngài bao gồm 14 thông điệp, 15 tông huấn, 11 tông hiến và 45 tông thư. Ngài cũng viết 5 cuốn sách: Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng (10/1994); Hồng Phúc và Mầu Nhiệm: Kỷ Niệm Lần Thứ 15 Tôi Được Thụ Phong Linh Mục” (tháng 11 năm 1996), Tranh Ba Bức Rôma: Suy Niệm Trong Thi Ca (tháng 3, 2003), Đứng Dậy, Nào Ta Lên Đường (Tháng 5, 2004) và Ký Ức Và Bản Sắc (tháng 2, 2005).

Đức Gioan Phaolô II cử hành 147 lễ phong chân phúc, trong đó, ngài đã phong chân phúc cho 1,338 vị, và cử hành 51 lễ phong thánh cho tất cả 482 vị. Ngài triệu tập 9 mật nghị viện Hồng Y, trong đó ngài tấn phong Hồng Y cho 231 vị (và 1 vị in pectore). Ngài cũng chủ tọa 6 phiên họp toàn thể Hồng Y Đoàn.

Từ năm 1978, Đức Gioan Phaolô II triệu tập 15 phiên họp của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế giới: 6 phiên khoáng đại thông thường (1980, 1983, 1987, 1990, 1994 và 2001), 1 phiên khoáng đại bất thường (1985) và 8 phiên đặc biệt (1980, 1991, 1994, 1995, 1997, 1998 [2] và 1999). Ngày 3 tháng 5 1981, một vụ mưu sát Đức Gioan Phaolô II đã diễn ra tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô. Được bàn tay từ mẫu của Mẹ Thiên Chúa cứu chữa, sau một kỳ dưỡng thương dài tại bệnh viện, ngài đã tha thứ cho kẻ mưu toan sát nhân và, vì ý thức rằng mình đã lãnh nhận một hồng ân vĩ đại, nên ngài đã tăng cường các cam kết mục vụ của ngài một cách quảng đại anh hùng.

Đức Gioan Phaolô II cũng đã biểu lộ quan tâm mục vụ của ngài qua việc thiết lập khá nhiều giáo phận và giáo hạt, và qua việc công bố các bộ giáo luật cho các Giáo Hội La Tinh và Đông Phương, cũng như Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo. Ngài công bố Năm Cứu Chuộc, Năm Thánh Mẫu và năm Thánh Thể cũng như Năm Đại Thánh 2000 để cung cấp cho Dân Thiên Chúa những trải nghiệm thiêng liêng hết sức nồng đậm. Ngài cũng lôi cuốn giới trẻ bằng cách khởi sự cử hành Ngày Giới Trẻ Thế Giới.

Không có vị giáo hoàng nào khác từng gặp gỡ nhiều người như Đức Gioan Phaolô II. Hơn 17 triệu 6 trăm nghìn khách hành hương đã tham dự các buổi yết kiến chung vào ngày thứ Tư (tổng cộng 1,160 buổi). Đó là chưa tính các buổi yết kiến đặc biệt cũng như nhiều nghi thức tôn giáo khác (hơn 8 triệu khách hành hương nguyên trong Năm Đại Thánh 2000). Ngài gặp hàng triệu tín hữu trong các cuộc viếng thăm mục vụ tại Ý và trên khắp thế giới. Ngài cũng tiếp nhiều viên chức các chính phủ tới yết kiến, trong đó, có 38 cuộc viếng thăm chính thức và 738 cuộc yết kiến và gặp mặt các quốc trưởng, cũng như 246 cuộc yết kiến và gặp mặt các vị thủ tướng.

Đức Gioan Phaolô II qua đời tại Tông Điện lúc 9 giờ 37 đêm thứ Bẩy, ngày 2 tháng Tư năm 2005, hôm vọng Chúa Nhật Áo Trắng (in albis) hay Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót, mà chính ngài thiết lập. Ngày 8 tháng Tư, lễ an táng ngài cách long trọng đã được cử hành tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô và xác ngài được chôn cất trong hầm Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô.

Đức Gioan Phaolô II được Đức Bênêđíctô XVI, vị kế nhiệm cận kề của ngài và là người cộng tác được ngài trân quí trong tư cách tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, phong chân phúc tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô ngày 1 tháng 5 năm 2011.

St.

Chủ Nhật, ngày 29 tháng 6 năm 2014

TRONG ĐÊM TỐI CÔ ĐƠN



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long



Trong suốt dọc đời sống ai cũng đều phải sống trải qua cơn hãi hùng những hoàn cảnh cô đơn bị bỏ rơi, không sớm thì muộn, không lúc còn trẻ tuổi thì lúc đời sống vào gai đoạn cao niên.

Điều này này không ai muốn. Nhưng hoàn cảnh như thế cứ đến, và đến thật bất ngờ, có khi còn dồn dập liên tục nữa.

Và nào ai có thể hoặc dám khẳng định mình không bị sống trải qua hoàn cảnh cô đơn như bị bỏ rơi đâu?

Hoàn cảnh phải sống trong cô đơn bị bỏ rơi, theo tầm nhìn suy hiểu của con người chúng ta là tiêu cực, đen tối. Nhưng mặt khác nó lại cũng có khía cạnh tích cực về mặt tinh thần cho huấn luyện giáo dục đào tạo.

Người nào đã sống trải qua hoàn cảnh đó, không chỉ rơi vào tâm trạng chao đảo đau khổ, mà còn có kinh nghiệm thật qúy báu cho đời sống tinh thần mình được trưởng thành vững chắc, mặc dù phải trả gía rất đắt.

Kinh nghiệm, cảm nghiệm qúy báu đó giúp cho không chỉ đời sống nên chững chạc giầu có trong suy nghĩ nhận định về thực tế đời sống làm người, nhưng còn giúp cho đời sống đạo giáo đức tin vào Chúa thêm tin tưởng xác tín hơn.

Mỗi người đều có hoàn cảnh đời sống trải qua những lúc cô đơn bị bỏ rơi thật khác nhau. Và như thế mỗi người thu nhận được cảm nghiệm cùng kinh nghiệm riêng hữu ích cho đời sống mình.

 Đức cố Hồng Y Phanxico Nguyễn văn Thuận kể lại hoàn cảnh cùng kinh nghiệm xác tín của mình về nỗi cô đơn bị bỏ rơi trong nhà tù Cộng sản khi xưa bên quê nhà Việt Nam.

„ Lần đầu tiên tôi phải tự bào chữa trước tòa, thì chẳng có ai bênh vực tôi. Mọi người đã bỏ mặc tôi... Nhưng có Chúa ở với tôi và ban sức mạnh cho tôi: để rồi cả trong hoàn cảnh đó, tôi có thể rao giảng sứ điệp của Chúa.“ 2 Tm 4,16-17.

Những lời này của Thánh Phaolo phản ảnh kinh nghiệm của chính tôi trong những năm cam go của cảnh tù đày. Không phải vì các giáo hữu và linh mục của tôi đã bỏ rơi tôi. Nhưng không ai có thể làm gì được cho tôi. Tôi hoàn toàn bị cô lập và cảm nghiệm tình trạng bị bỏ rơi. Nhưng „ Chúa ở cùng tôi“, vì thế, cả khi Ngài ẩn mặt, Chúa Cha vẫn không bỏ rơi chúng ta.

Nhà tù nơi tôi bị giam trong những tháng đầu tiên tọa lạc tại khu vực có nhiều tín hữu Công giáo nhất trong thành phố Nha Trang, nơi tôi đã làm Giám mục trong 8 năm.

Từ phòng giam, sáng tối tôi đều nghe thấy tiấng chuông nhà thờ chính tòa ngân vang, và suốt ngày, tôi nghe những tiếng chuông của bao nhiêu giáo xứ và nhà Dòng. Tôi ước mong được dời đi thật xa, lên miền núi để khỏi phải nghe những tiếng chuông ấy.

Ban đêm, trong cái thinh lặng của thành phố, tôi nghe lại tiếng sóng Thái bình dương mà tôi đã từng nghe thấy từ cửa số văn phòng tòa giám mục của tôi. Không ai biết tôi ở đâu, mặc dù nhà tù chỉ cách nhà tôi vài cây số. Tôi sống trong tình trạng thật vô lý.

Tối ngày 01 tháng 12 năm 1976, như tôi đã kể, người ta đưa tôi từ nhà tù Thủ Đức xuống tàu đi Hải Phòng. Tối hôm ấy, trong khi chờ đợi, họ bắt chúng tôi ngồi xuống đất. Xa xa, cách đó 3 cây số, tôi thấy ánh điện của thành phố Sàigòn, trung tâm của Gíao phận mà tôi đã được bổ nhiệm làm Giám mục phó ngày 24 tháng 4 năm 1975.

Tôi biết rằng mình sắp sửa bị đưa đi xa khỏi nơi này. Đau khổ ấy làm tôi rùng mình. Tôi nghĩ đến Thánh Phaolo Tông đồ lúc từ gĩa các Kỳ Mục thành Epheso tại Mileto, khi biết rằng sẽ không bao giờ còn được nhìn lại họ nữa. Còn tôi thì không được từ gĩa những người thân của tôi. Tôi cũng không thể an ủi hoặc để lại cho họ lời khuyên nào. Trong thâm tâm, tôi từ gĩa họ, nhất là Đức TGM cao niên Phaolo Nguyễn văn Bình tốt lành của tôi. Tâm hồn tôi đau đớn, khi nghĩ mình sẽ không bao giờ còn được nhìn lại họ nữa. Cho đến nay, tôi vẫn chưa gặp lại họ.

Tôi cảm thẩy niềm đau khổ mục tử sâu xa trong tất cả những điều đó, nhưng tôi có thể làm chứng rằng Chúa Cha không hề bỏ rơi tôi và Ngài đã ban sức mạnh cho tôi.“ (ĐHY Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận, Chứng nhân hy vọng, Các bài giảng tĩnh tâm cho Đức Thánh Cha và Giáo triều Roma năm 2000, Dân Chúa 2001, Trang 117-118.)

Trong đêm tối cô đơn bị bỏ rơi, sức mạnh tinh thần là điều cần thiết hơn hết giúp cho đứng vững không bị ngã qụy suy xụp cả sức khoẻ thể xác lẫn trí khôn tâm trí.

Trong đêm tối cô đơn bị bỏ rơi, đức tin vào Chúa, như Đức Hồng Y Phanxico Xavie Thuận kể thuật lại, là điểm tựa, là niềm hy vọng giúp đời sống vực dậy vươn lên. Vì biết rằng Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên đời sống con người không bỏ rơi ai, Ngài hằng cùng đồng hành với trong mọi hoàn cảnh đời sống.

Thiên Chúa là sức mạnh thể xác lẫn tinh thần cho hôm nay, cùng là niềm hy vọng cho ngày mai.

Kỷ niệm dịp đến thăm viếng Căn phòng vị Tôi Tớ Chúa
cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn văn Thuận

Địa chỉ liên lạc tới thăm Căn phòng

Stiftung der Celittinen zur hl. Maria
Graseggerstrasse 105
50737  Koeln- Longerich
Tel. 0049 (0) 221-974514-51
Herr Diakon W. Allhorn: 0221- 97451420



Thứ Bảy, ngày 21 tháng 6 năm 2014

HIỆN TƯỢNG BÓNG ĐÁ



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

Từ ngày bắt đầu Word Cup 2014 ở bên Nam Mỹ châu nước Brazil, 12.06.2014, đến hôm nay 20.06.2014, theo ước tính đã có tới vài trăm triệu người theo dõi những trận thi đấu bóng đá trên sân cỏ của biến cố này qua màn ảnh truyền hình khắp nơi trên thế giới. Con số này sẽ còn tăng lên cao hơn nữa, nhất là vào những vòng thi đấu sâu hơn: vòng thứ tám, tứ kết, bán kết và chung kết. 

Bóng đá như thế đã và đang trở thành một điều gì bất thường, hay một đột phá trong đời sống thường ngày. Với những người hâm mộ say mê, mùa bóng đá tựa như „mùa thứ năm“ chen lẫn trong bốn mùa tuần hoàn Xuân Hạ Thu Đông của thiên nhiên.

Bóng đá được bình giải nói đến nhiều liên tục lúc này ở khắp mọi nơi không chỉ trong vòng lý luận tranh cãi, mà còn mang dấu vết sâu đậm rất nhiều tình cảm buồn vui, thất vọng cùng hy vọng, hãnh diện cùng chút gì quê quê xấu hổ nữa...



Thể thao bóng đá và tinh thần tôn giáo

Bóng đá tuy là môn thể thao giải trí xưa nay, nhưng dần dần bóng đá cũng mang một ý nghĩa tinh thần đạo giáo, nhất là về khía cạnh huấn luyện giáo dục đào tạo cho nếp sống nhân bản.

Có ý kiến, nhìn thấy nơi những cổ động viên hâm mộ say mê bóng đá, cho rằng những người này đã đang liên kết tạo thành một „cộng đoàn tin kính“ về ba nhân đức niềm tin, lòng yêu mến và niềm hy vọng đối với đội bóng, Câu lạc bộ của họ, hay nôm na là „ gà nhà“ của mình. Họ yêu mến hồi hộp tựa như „lên cơn sốt rét“ cầu mong đạt được chiến thắng mỗi khi đội „ gà nhà“ thi đấu trên sân cỏ. Có nhà bình luận không ngần ngại nghĩ rằng bóng đá đang trên đường trở thành một thứ loại „tôn giáo thế giới“ có tầm cỡ lớn.

Những người hâm mộ bóng đá đội banh thành phố Dortmund bên nước Đức, khi đến cầu trường xem thi đấu họ hát vang bài ca của họ trong đó có câu: „Leuchte auf, zeige mir den Weg. Ich hege mit Dir, Borussia. - Hãy soi chỉ đường cho tôi. Tôi cùng đi với bạn, hỡi đội banh Borussia? „ Họ ca những lời này muốn củng cố cổ võ tinh thần đội banh gà nhà của họ mạnh mẽ lên.

Hay những người hâm mộ đội banh FC Liverpool bên Anh quốc có lời trong bài hát của họ: „ You will never walk alone - Bạn sẽ chẳng đi một mình đâu.“.

Những lời hát này vang vọng như phảng phất lại những lời trong Kinh Thánh viết nơi sách Tiên Tri Isaia, chương 43, 2: „ Dù ngươi có băng qua nước, Ta,  Đức Chúa của người, ở cùng ngươi, ngươi có vượt qua sông, cũng không bị nước cuốn, ngươi có đi trong lửa, cũng chẳng hề hấn gì, ngọn lửa không thiêu rụi ngươi đâu.“.

Như vậy phải chăng bóng đá cũng là một thứ loại niềm tin tôn giáo?

Trận đấu banh và lễ nghi phượng thờ

Những trận thi đấu bóng đá thu hút hàng chục ngàn người mua vé vào cầu trường xem, đang khi nơi các Thánh đường lại thưa vắng ít người đi đến tham dự lễ nghi phụng vụ thánh lễ. Tại sao vậy?

Có suy nghĩ rằng: sân cỏ bóng đá mang đến bầu khí hào hứng gây cấn hơn nhà thờ. Vì ở nhà thờ luôn luôn một luận điệu: Bạn sẽ thắng, Thiên Chúa sẽ phù hộ ban ơn cho Bạn, và có thể không có sự gì xảy đến đâu. Luận điệu đó một chiều tẻ nhạt qúa. Trên sân cỏ thi đấu Bóng đá thì khác. Nó mang đến bầu khí nhiều thay đổi, lên xuống hồi hộp căng thẳng gây cấn hào hứng hơn là một lễ nghi phượng thờ trong thánh đường.

Trên phương diện thi đấu, các cầu thủ chơi banh không chỉ bằng thể lực cùng kỹ thuật, nhưng còn với nghệ thuật cùng đam mê nồng nhiệt nữa hơn hẳn một cộng đoàn tôn giáo.  

Nhưng không phải từ đầu đến cuối trận thi đấu cả 90 phút đều diễn xảy ra căng thẳng gây cấn đâu. Có những giai đoạn thi đấu, những trận thi đấu cũng nhàm chán tẻ nhạt vậy, khi cầu thủ chơi phạm lỗi, chơi không đẹp không điệu nghệ, thua trận...Xem những trận như thế, Cổ động viên, khán giả đi xem cũng cảm thấy nhàm chán rồi thất vọng bỏ ra đi về nhà sớm. Ấy là chưa nói đến những lạm dụng, những xì căng đan qua thương vụ mua bán trong môn ngành này đã từng xảy ra.

Và như vậy, bóng đá đâu phải là cái gì có thể làm cho bầu khí trong đời sống luôn luôn có hào hứng gây cấn.

Nó cũng có giới hạn của nó, cùng không thể thay thế là món ăn lành mạnh nuôi dưỡng tinh thần được.

Có Thiên Chúa bóng đá không?

Có những người hoặc có ý kiến suy nghĩ cực đoan, hoặc muốn vui đùa cùng ý muốn nhạo báng, nên đã đặt ra thắc mắc: phải chăng có một Thiên Chúa bóng đá ?

Thắc mắc hay qủa quyết này gây ra sự bực bội đến độ nóng giận dữ nơi tôn giáo. Vì đó là suy nghĩ mang mầu sắc cuồng tín khiêu khích. Đức Hồng Y Woelki, Tổng giám mục Berlin cho  điều đó là sự sáng chế của báo chí đặt ra thôi: „ Không, không, không, Làm gì có một Thiên Chúa bóng đá. Nhưng chỉ có một Thiên Chúa, Ngài ở trên tất cả.“  

Cựu Thủ môn Oliver Kahn của đội banh nước Đức đã nói về thắc mắc Phải chăng những cầu thủ đá banh là những vị thần thánh của chúng ta? : „ Tôi đã có lần nói đến một Thiên Chúa bóng đá, và sau đó suy nghĩ lại tôi rất ân hận rất bực mình:Tại sao mình lại có thể suy nghĩ ra điều vô lý nhảm nhí như thế được. Chỉ có một Thiên Chúa  duy nhất thôi. Thiên Chúa này ban tặng cho ta sức lực giúp ta trong mọi hoàn cảnh tích cực cũng như tiêu cực sống vượt qua. Đó là Thiên Chúa của Kitô giáo, mà tôi hằng tin tưởng.“

Nhà huấn luyện bóng đá nổi tiếng, còn gọi là nhà dìu dắt hay Ông bầu, J. Klopp của đội banh Dortmund, một tín hữu Tin Lành, cũng phát biểu tương tự: „ Không làm gì có Thiên Chúa bóng đá đâu. Nhưng tôi tin có một Thiên Chúa, Ngài yêu thương con người chúng ta như chúng ta là với tất cả những tích cực cũng như tiêu cực của đời sống. Chính vì thế, tôi nghĩ rằng Thiên Chúa cũng yêu thích bóng đá.“

Thể hiện nét thâm sâu đời sống

Thắc mắc đặt ra vì cớ gì mà thể thao bóng đá lại hấp dẫn con người càng ngày càng mãnh liệt?

Tại sao con người lại say mê hâm mộ bóng đá, dù không phải hết tất cả mọi người, như một hiện tượng liên quan mật thiết với đời sống vậy?

Đàng sau hiện tượng gây hào hứng sôi nổi của bóng đá có còn thể hiện điều gì nữa không?

Đức hồng Y Joseph Ratzinger, bây giờ là đức giáo hoàng nghỉ hưu Benedicto XVI., đã có suy tư về khía cạnh này:

Người bi quan sẽ cho rằng,  điều đó giống như ở thời Roma cổ xưa, họ đã viết trên biểu ngữ: Panem et circenses – Cơm bánh ăn và trò chơi Xiếc. Ăn và chơi chỉ là nội dung đời sống của một xã hội đang trên đà xuống dốc, đang lúc họ không còn nhận ra những đích điểm cao hơn nữa.
..................................... 
 Ðưa mắt nhìn ngược trở về thời Roma xa xưa, chúng ta có thể tìm ra câu trả lời, tiếng la hét đòi cơm bánh và môn chơi biểu hiện của khát vọng về một đời sống thiên đàng hạnh phúc, về một đời sống no đủ không có cực nhọc vất vả, và tự do được thỏa mãn tràn đầy. Ðiều này ẩn chứa trong môn chơi: trong hành động hoàn toàn tự do, không có đích điểm, không có sự bó buộc, nhưng có cố gắng về sức lực và được thi hành trọn vẹn.

 Trong ý nghĩa này môn chơi (bóng đá) cũng là một thể loại thử tìm về trở về nhà, nơi là thiên đàng hạnh phúc: bước thoát ra khỏi đời sống hằng ngày bị trói buộc do những ràng buộc căng thẳng vất vả, và lo liệu cho đời sống căng thẳng có tự do những gì không bắt buộc và dẫn dưa đưa đến sự tốt đẹp.“  (Hồng Y Joseph Ratzinger, bài nói chuyện trên hệ thống truyền thanh về bóng đá, năm 1978 )

,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,‘,

Bóng đá ngày nay là môn thể thao phổ thông trên khắp thế giới. Quốc gia đất nước, thành phố, tỉnh thành nào cũng hầu như đều có sân bóng đá, đội banh chuyên nghiệp, hay những người chơi tập luyện thể thao bóng đá cho khỏe mạnh, và cũng có những hội của những người hâm mộ say mê môn bóng đá ủng hộ đội gà nhà. Nhưng bóng đá, dù có thời điểm lúc nào vượt qua ngưỡng cửa môn thể thao thuần túy, cũng không thể nào là đời sống hay thay cho niềm tin tôn giáo được.

Vì những cảm xúc, cảm tính thường hay nhất thời lên xuống bất thường theo biểu đồ nhiệt độ tình cảm con người. Hơn nữa những trận thi đấu bóng đá chỉ diễn ra theo mùa ấn định, và các cầu thủ, dù họ được tôn vinh là thần tượng anh hùng đi nữa, cũng chỉ có một thời gian lúc tuổi trẻ sức lực đầy tràn lên cao, rồi lại tụt xuống dốc thôi.

Một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp được hỏi : Điều gì quan trọng cho đời sống: Bóng đá hay đức tin tôn giáo?. Anh đã nói ngay: Đây là câu hỏi khó trả lời. Nhưng tôi vẫn thích sống không có bóng đá hơn là không có niềm tin tôn giáo của riêng tôi.

Mùa World Cup 2014
   

Thứ Bảy, ngày 14 tháng 6 năm 2014

HÉT TRÊN CẦU TRƯỜNG



Lm.Daminh Nguyễn ngọc Long

Nguyên tác: Những tiếng la hét trên cầu trường

Những tiếng reo hò say mê như cuồng loạn của khán gỉa trên cầu trường đi xem thi đấu bóng đá không là tiếng nói của trái banh được các cầu thủ đá lừa dẫn giao chuyền lăn trên sân cỏ.

Những tiếng vỗ tay hay tiếng kèn trống vang dội trong cầu trường cũng không là tiếng nói của trái banh da đang bay bổng trong không gian cầu trường, khi thể lực từ đôi chân cầu thủ phổ vào đá tung lên cao.

Những nét hân hoan vui mừng trên đôi má vầng trán với cờ xí khăn quàng tung bay ngợp không gian cầu trường ngoài đường phố, hay cả nỗi ấm ức vẻ mặt buồn thảm thất vọng với dòng nước mắt của khán gỉa, và của cả cầu thủ thi đấu bóng đá cũng không là tiếng nói của trái banh da bơm căng đầy không khí trên sân cỏ.

Nhưng dẫu vậy môn thể thao bóng đá ẩn chứa sứ điệp không thành tiếng nói.

1. Sân cỏ thể thao và việc đào tạo giáo dục 

Những trận thi đấu bóng đá World Cup 2014 - từ 12.06. đến 13.07.- đang diễn ra mỗi ngày càng sôi nổi, như cơn sốt lên tới cao độ ở bên Brail vùng trời châu lục Nam Mỹ, đã và đang phát tỏa gây ra làn sóng phấn khởi hân hoan đến độ cuồng loạn.

Tinh thần này không chỉ nổ lan ra nơi những người có mặt tại cầu trường sân cỏ thi đấu, cũng không chỉ nơi những người dân Brazil Nam Mỹ châu ,mà còn cả nơi những người trên khắp thế giới theo dõi qua màn ảnh truyền hình. Làn sóng phấn khởi hân hoan của thể thao bóng đá như thế đã nối kết mọi con người trên khắp qủa địa cầu hình tròn như trái banh lại với nhau.

Nhà văn Eduardo Galeano người Uruguay đã có nhận xét tương tự: “ Thể thao bóng đá là ngôn ngữ, mà tất cả mọi người đều hiểu được.” .


Ở thành phố cảng Tema nước Ghana, 55 trẻ em bạn trẻ bị bơ vơ theo chiều hướng giáo dục được hội từ thiện tập trung gây dựng thành những đội banh đá. Qua cùng thao luyện tập tành chơi chung bóng đá, các em dần hiểu ra thế nào là tinh thần đồng đội cùng chơi chung; thế nào kỷ luật và cung cách chơi thể thao Fair play. Và qua tập luyện thi đấu, các em cảm nhận ra mình vẫn cón gía trị, khi tập luyện thành công, thi đấu thắng giải được công nhận khen thưởng.

Thể thao bóng đá như thế khác nào chiếc chìa khóa giúp vào việc giáo dục làm thay đổi tâm lý nếp sống con người bạn trẻ. Và nhờ đó có đà sức sống cố gắng vươn lên.

Ở thủ đô Quinto nước Ecuadors, Dòng Don-Bosco trong chương trình dự án giúp đỡ các trẻ em bạn trẻ bụi đời sống lang thang ngoài đường phố, đã thành lập trường thể thao, nhằm qui tụ các em đó lại và hướng dẫn giáo dục họ qua môn thể thao bóng đá. Trường có tên bằng tiếng Tây ban Nha Golaso.

Trường thể thao Galaso không chỉ nhắm chú trọng đến thể thao bóng đá, nhưng tên Galoso còn mang ý nghĩa khác trong việc nâng đỡ giáo dục các em đó: Gol có nghĩa là Khung thành, cú banh lọt lưới khung thành ; A từ chữ Autoestima = tự tin vào gía trị mình; S = Solidaridad = tình đoàn kết; O = Organización = tổ chức sắp xếp. Đây là những gía trị tinh thần cần thiết cho đời sống, mà trường Galoso mong muốn qua môn thể thao bóng đá truyền mang lại làm hành trang cho các trẻ em bạn trẻ vướng mắc vào đời sống khó khăn lang thang không nghề nghiệp.
  
Các bạn trẻ cần được khuyến khích có niềm vui phấn khởi với đời sống. Thể thao bóng đá là một cách thế giúp họ. Vì thế trường dậy nghề cũng tổ chức song song đội nhóm lớp luyện tập thi đấu đá banh giữa nhau. Như thế, Thể thao bóng đá đóng vai trò trọng yếu trong cách tập luyện giáo dục đào tạo các em bước chân vào đời sống chung trong xã hội.  

“ Thể thao bóng đá dậy đào tạo cung cách tinh thần đồng đội cùng chơi chung; gây niềm hân hoan phấn khởi cùng thúc đẩy lòng hâm hộ thể thao. Nên thể thao bóng đá là một yếu tố quan trọng trong chương trình nhằn nâng đỡ phát triển” như Reinhard Heiser, người điều khiển trong chương trình nâng đỡ phát triển, đã có nhận xét như vậy.

2. Bóng đá nói lên khát vọng đời sống con người
  
Hồi còn là Tổng giám mục München, Hồng Y Joseph Ratzinger, bây giờ là  Đức Giáo hoàng nghỉ hưu Benedicto 16., ngày 03.06.1978 đã có suy tư về thể thao bóng đá trên đài phát thanh:

„ Bóng đá đã trở nên một biến cố trên khắp thế giới. Bóng đá có sức mạnh lôi cuốn, liên kết con người vuợt qua mọi ranh giới trong niềm hy vọng, lo âu hồi hộp, tha thiết nồng nàn và niềm vui tươi phấn khởi. Hiếm có biến cố nào trên thế giới có hấp lực trải rộng như thế.

Biến cố đó, có thể nói được, là khát vọng xa xưa khởi thủy của con người, và cũng đặt ra câu hỏi, trên nền tảng nào môn chơi này có hấp lực sức mạnh như vậy.

Người bi quan sẽ cho rằng,  điều đó giống như ở thời Roma cổ xưa, họ đã viết trên biểu ngữ: Panem et circenses – Cơm bánh ăn và trò chơi Xiếc. Ăn và chơi chỉ là nội dung đời sống của một xã hội đang trên đà xuống dốc, đang lúc họ không còn nhận ra những đích điểm cao hơn nữa.

 Nhưng nếu, cho đi rằng, người ta chấp nhận điều này, điều đó cũng không thể nào đủ có sức thuyết phục được. Vì thế phải hỏi lại: Trên nền tảng nào, môn chơi này có sức hấp dẫn, đến nỗi trở nên quan trọng bên cạnh cơm bánh như vậy? 

Ðưa mắt nhìn ngược trở về thời Roma xa xưa, chúng ta có thể tìm ra câu trả lời, tiếng la hét đòi cơm bánh và môn chơi biểu hiện của khát vọng về một đời sống thiên đàng hạnh phúc, về một đời sống no đủ không có cực nhọc vất vả, và tự do được thỏa mãn tràn đầy. Ðiều này ẩn chứa trong môn chơi: trong hành động hoàn toàn tự do, không có đích điểm, không có sự bó buộc, nhưng có cố gắng về sức lực và được thi hành trọn vẹn.

 Trong ý nghĩa này môn chơi cũng là một thể loại thử tìm về trở về nhà, nơi là thiên đàng hạnh phúc: bước thoát ra khỏi đời sống hằng ngày bị trói buộc do những ràng buộc căng thẳng vất vả, và lo liệu cho đời sống căng thẳng có tự do những gì không bắt buộc và dẫn dưa đưa đến sự tốt đẹp.

 Như thế, môn chơi đã vượt qua cuộc sống hằng ngày. Môn chơi trước hết, nhất là đem đến cho trẻ em, bạn trẻ một bộ mặt đức tính khác: Sự tập luyện bước vào đời sống. Nó vẽ nên dấu chỉ hình ảnh đời sống tự mình phát triển cung cách sống cởi mở tự do.

 Với tôi, hấp lực của môn chơi Bóng đá nằm ở chỗ, nó liên kết cả hai khía cạnh này trong một hình thái có sức hấp dẫn thuyết phục.

 Nó bó buộc con người, trước hết tự mình thuần thục hóa chính mình qua việc tập luyện để thắng chính mình, qua sự vượt trội có sẵn hay đạt được đưa đến tự do. Thể thao bóng đá cũng dậy cho biết sống chơi kỷ luật với nhau. Trong một đội banh bắt buộc phải khép mình từng cá nhân vào tập thể chung.

 Môn thể thao bóng đá nối kết cùng chung đích điểm. Thành công hay không thành công của mỗi cá nhân nằm trong liên quan thành công hay không thành công của toàn đội banh.

 Môn thể thao luyện cung cách chơi đấu cao thượng khi chống chọi nhau, qua việc tuân giữ luật lệ chơi chung. Có thế cả hai bên đội banh mới có tự do.

  Trong khi theo dõi quan sát tranh tài trận bóng đá trên sân cỏ, khán gỉa tự đồng hóa mình với trận chơi và với các cầu thủ đang thi đấu; họ gần như tham dự hăng say tích cực với đội banh gà nhà và cả với đội đối thủ, với sự căng thẳng bó buộc và cả với tự do nữa. Các cầu thủ chơi chạy trên sân cỏ trở thành hình ảnh biểu tượng của đời sống riêng họ, và tạo ảnh hưởng lại trên họ. Các cầu thủ biết rằng, những người đó tự vẽ nên hình ảnh mình qua các cầu thủ và tìm thấy được công nhận nơi họ.

 Lẽ tất nhiên những điều này có thể trở nên bị tiêu hủy, bị làm cho ra xấu xa, khi yếu tố thương mại, tiền bạc chiếm ngự; khi môn chơi thể thao trở thành kỹ nghệ sản xuất, nó tạo ra một thế giới hào nhoáng hình ảnh không tốt đẹp.

Cho dù không tạo ra một thế giới hào nhoáng đầy hình ảnh, không có được lý do tích cực đi nữa trong môn chơi thể thao này: nó vẫn là phần tiền luyện tập thuộc về đời sống và sự bước qua của đời sống đi tìm phương hướng của một thiên đàng hạnh phúc đã bị mất. Cả hai đều đi tìm kỷ luật của sự tự do, trong mối dây ràng buộc vào luật lệ với nhau, chống chọi lại nhau và của mỗi cá nhân.

Nên rất có thể, trong suy nghĩ như thế, chúng ta rút ra từ môn chơi thể thao bóng đá bài học mới cho đời sống.

 Nơi môn chơi thể thao này ta nhận ra một nền tảng căn bản: Con người sống không nguyên chỉ bằng cơm bánh thôi. Vâng, thế giới cơm bánh thật ra chỉ là bước tiên khởi cho đời sống con người, cho một thế giớ tự do. Sự tự do sống còn phát triển qua luật lệ, qua thuần thục giáo dục. Nó dậy cách sống chơi chung và sống thế nào là một đối thủ tốt có lối sống ngay chính trong cuộc chơi.                 

 Cuộc chơi, đời sống, nếu đi sâu vào hiện tượng của một thế giới hào hứng phấn khởi về bóng đá, có thể giúp ta nhận ra nhiều điều vượt xa hơn chỉ là một cuộc vui chơi giải trí.“

3. Thể thao bóng đá và nếp sống nhân bản

Dịp khi mạc mùa Word Cup 2014 ở Brazil, Đức đương kim Giáo hoàng Phanxicô, người yêu chuộng mộ mến môn thể thao bóng đá ngay từ thờicòn là Hồng Y Tổng giám mục Buenos ires bên Argentina, đã gửi thông điệp chào mừng nói về nếp sống nhân bản qua môn thể thao bóng đá:

”Thể thao không phải chỉ là một hình thức tiêu khiển, nhưng đặc biệt nó là một dụng cụ cho việc thông truyền các giá trị thăng tiến thiện ích của con người và giúp kiến tạo một xã hội an bình và huynh đệ hơn. Chúng ta nghĩ đến sự lương thiện, kiên trì, tình thân hữu, sự chia sẻ, và liên đới. Thực vậy, bóng đá gợi lên nhiều giá trị và thái độ quan trọng không những tại sân bóng, nhưng cả trong mọi khía cạnh của cuộc sống, cụ thể hơn là trong việc xây dựng hòa bình. Thể thao là một trường hòa bình, dạy chúng ta xây dựng hòa bình”.

”Trước tiên thể thao dạy chúng ta điều này: để thắng thì cần phải tập luyện. Qua việc thực hành thể thao, chúng có thể thấy đó là hình ảnh cuộc sống của chúng ta. Trong cuộc đời cần phải chiến đấu, phải tập luyện, dấn thân để đạt được những kết quả quan trọng. Tinh thần thể thao gợi lại cho chúng ta hình ảnh những hy sinh cần thiết để tăng trưởng trong các nhân đức tạo nên cá tính mỗi người. Nếu để cải tiến một người, cần phải tập luyện khẩn trương và liên tục, thì cần phải dấn thân nhiều hơn để đạt tới cuộc gặp gỡ và hòa bình và giữa các dân tộc được ”cải tiến”.

”Bóng đá có thể và phải là một trường huấn luyện về một nền văn hóa gặp gỡ” mang lại sự hài hòa và an bình giữa các dân tộc. Ở đây bài học thứ hai trong việc thực hành thể thao giúp đỡ chúng ta: chúng ta học cách chơi đẹp trong bóng đá. Để chơi trong đội banh của mình thì trước tiên cần phải ý đến ích lợi của nhóm chứ không phải nghĩ đến mình.

Để thắng, cần phải vượt lên trên chủ nghĩa cá nhân, tính ích kỷ và mọi hình thức kỳ thị chủng tộc, bất bao dung và lợi dụng con người. Thái độ cá nhân chủ nghĩa trong bóng đá là một chướng ngại cản trở chiến thắng của đội bóng; cũng chúng ta theo cá nhân chủ nghĩa trong cuộc sống, cố tính không biết đến những người chung quanh, thì toàn thể xã hội sẽ bị thiệt thòi”.

Bài học sau cùng mà thể thao mang lại để giúp đạt tới hòa bình là phải tôn trọng đối phương. Bí quyết của chiến thắng trên sân banh và cả trong cuộc sống, hệ tại biệt tôn trọng người đồng đội của mình cũng như đối phương. Không ai có thể chiến thắng một mình trên sân banh cũng như trong cuộc đời. Ước gì không ai tự cô lập mình và cảm thấy bị loại ra ngoài! (SD 12-6-2014- Vietcatholic 12.06.2014).

**********

Bóng đá, theo sử sách viết để lại có từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên bên Trung Hoa. Đến thời Trung cổ phát triển bên Anh quốc và từ thế kỷ thứ 19. được cải tiến cho phù hợp với thời đại cùng tâm tính con người. Dần dần bóng đá được du nhập vào các quốc gia khác trên thế giới như một môn thể thao cho việc giải trí, rồi cho việc huấn luyện thân thể con người khoẻ mạnh.

Và cũng trên nền tảng đó, bóng đá trở thành phổ thông hơn cho dân gian hầu như trong mọi lãnh vực khác nữa của đời sống.

Trong lãnh vực văn hóa, thể thao bóng đá cũng có chỗ đứng. Nhiều huấn luyện viên đã phát triển kỹ thuật chơi nhồi banh trên sân cỏ theo một triết lý đời sống mà họ nghĩ tìm ra. Như nền bóng đá Nam Mỹ có triết lý kỹ thuật khác với nền bóng đá Âu Châu hay Phi Châu.

Có lẽ từ căn bản văn hóa đó thể thao bóng đá còn được nhiều nghệ sĩ , nhà giáo dục hiểu coi như một thứ ngôn ngữ toàn cầu có cấu trúc tổ chức về luật lệ chơi thi đấu và truyền thống riêng.

Nhà văn Albert Camus, từng là người bắt banh thủ môn giữ khung thành một đội bóng đá đã có nhận xét: “Tất cả những gì tôi hiểu rõ về đạo đức và ý nghĩa nhiệm vụ của con người đều có được nhờ môn bóng đá!”

Orandum est, ut sit mens sana in corpore sano- Con người ta cần phải cầu xin có một tinh thần khỏe mạnh trong một thân thể cường tráng.“ Nhà Thơ Juvenal


Mùa World Cup 2014



Thứ Ba, ngày 10 tháng 6 năm 2014

LẠY CHÚA THÁNH THẦN



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long



Nguyên tác: "Veni Sancte Spiritus - Lạy Chúa Thánh Thần xin ngự đến."

Ngày lễ mừng kính Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống bài thánh ca tiếp liên được hát trước khi đọc phúc âm.

Thánh ca tiếp liên từ thời Công đồng Trientino được hát trong các lễ trọng Chúa Giêsu phục sinh với bài Victimae paschali, lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống với bài Veni sancte Spiritus, lễ kính Mình Máu Thánh Chúa  với bài Lauda Sion, lễ kính bảy sự thương khó Đức mẹ Maria với bài Stabat Mater, và  lễ an táng cầu cho người qúa cố với bài Dies irae dies illa.

Nhưng sau cải tổ Phụng thời công đồng Vatican II. chỉ còn hát Ca tiếp liên vào ba ngày lễ trọng: lễ Chúa phục sinh, lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống và lễ kính mình Máu Thánh Chúa.

Bài thánh ca tiếp liên lễ Đức Chúa Thánh hiện xuống Veni sancte Spiritus bằng iếng latinh được cho là do đức hồng Y Stephan Langton, Tổng giám mục thành Canterbury, năm 1200 đã sáng tác ra.

Veni, Sancte Spiritus,                         Muôn lạy Chúa Thánh Thần,
Et emitte caelitus                                xin ngự đến trần gian,
Lucis tuae radium.                              tự trời cao gửi xuống,
                                                           nguồn ánh sáng tỏa lan.
Veni, pater pauperum,                        Lạy Cha kẻ bần hàn,                  
Veni, dator munerum,                         Đấng tặng ban ân điển,
Veni, lumen cordium.                          và soi dẫn nhân tâm,
                                                            cúi xin Ngài ngự đến.
Consolator optime,                            Đấng ủi an tuyệt diệu
Dulcis hospes animae,                      thượng khách của têm hồn,
Dulce refrigerium.                            ôi ngọt ngào êm dịu
                                                          dòng suối mắt chảy tuôn.
In labore requies,                              Khi vất vả lao công,
In aestu temperies,                            Ngài là nơi an nghỉ,
In fletu solatium.                               gío mát đuổi cơn nồng,
                                                          tay hiền lau gịot lệ.
O lux beatissima,                             Ôi hào quang linh diệu,
Reple cordis intima                          xin chiếu giãi ánh hồng
Tuorum fidelium.                              vào tâm hồn tín hữu,
                                                         cho rực rỡ trinh trong.
Sine tuo numine                             Không thần lực phù trì
Nihil est in homine,                        kẻ phàm nhân cát bụi,
Nihil est innoxium.                        thật chẳng có điều chi 
                                                      mà không là tội lỗi.
Lava quod est sordidum,               Hết những gì nhơ bẩn,
Riga quod est aridum,                   xin rửa cho sạch trong,
Sana quod est saucium.                tưới gội nơi khô cạn,
                                                      chữa lành mọi vết thương.
Flecte quod est rigidum,              Cứng cỏi uốn cho mềm,
Fove quod est frigidum,               lạnh lùng xin sưởi ấm,
Rege quod est devium.                 những đường nẻo sai lầm,
                                                     sửa sang cho ngay thẳng.
Da tuis fidelibus                          Những ai hầng tin tưởng
In te confidentibus                      trông cậy Chúa vững vàng,
Sacrum septenarium.                  dám xin Ngài rộng lượng,
                                                    bảy ơn thánh tặng ban.
Da virtutis meritum,                   Nguyện xin Chúa thưởng công
Da salutis exitum,                       cuộc đời dày đức độ,
Da perenne gaudium.                 ban niềm vui muôn thuở
                                                    sau giờ phút lâm chung.
                                                   (Bản dịch của Nhóm Các giờ kinh phụng vụ.)

Bài thánh ca có 10 phiên khúc. Phiên khúc thứ nhất và thứ hai kêu cầu Đức Chúa Thánh Thần, Đấng là ánh sáng - Lucis tuae radium, và lumen cordium - đến chiếu sáng trần gian, và ánh sáng cho trái tim tâm hồn con người.

Phiên khúc thứ ba và thứ tư nhấn mạnh hoạt động của Đức Chúa Thánh Thần, Đấng mang đến nguồn an ủi cho con người trong đời sống gặp những vất vả khốn khó lo âu.

Phiên khúc thứ năm và thứ sáu  diễn tả trở lại Đức Chúa Thánh Thần là ánh sáng, Đấng là ánh sáng niềm vui hạnh phúc tận trong thâm tâm trái tim con người. Ánh sáng thần linh có sức năng động sáng tạo, như trong sách Sáng Thế đã diễn tả Thần Linh Thiên Chúa sáng tạo mọi sự từ hư vô. Ánh sáng Chúa Thánh Thần làm cho tâm trí con người có được sức sống động niềm vui hạnh phúc.

Phiên khúc  thứ bảy và thứ tám nói đến sức linh hoạt của đức Chúa Thánh Thần, Đấng sáng tạo: Ngài tẩy rửa mọi dơ bẩn cho sạch, Ngài tưới gội vào nơi chỗ khô cạn, Ngài chữa lành chỗ thương tích, Ngài bẻ cong chỗ đã trở nên khô cứng, Ngài sưởi ấm nơi gía lạnh , Ngài vực lôi kéo lại những gì xa lạc trệch đường. Đức Chúa Thánh Thần là sức mạnh sáng tạo của Thiên Chúa.

Hai phiên khúc sau cùng là lời cầu khẩn của Cộng đoàn dân Chúa xin Đức Chúa Thánh Thần đến.

Những lời kêu khấn xin Chúa Thánh Thần ngự đến dưới dạng như thúc bách ra lệnh : Veni : xin hãy đến. Lava: hãy tẩy rửa, Riga: hãy tưới gội, Sana: hãy chữa lành, Flecte: hãy làm cho mềm dẻo, Fove: hãy sưởi ấm, Rege: hãy điều khiển lèo lái.

Những kêu cầu như ra lệnh nơi hai phiên khúc đầu và nơi hai phiên khúc bảy và tám, như những lớp bao quanh củ hành cho lõi nhân ở giữa, là hai phiên khúc thứ năm và thứ sáu ở trung tâm bài thánh ca ngợi khen Đức Chúa Thánh Thần, Đấng là ánh sáng cho tâm hồn tín hữu Chúa Kito.

Mầu nhiệm về Chúa Thánh Thần hiểu thấu được khi thờ kính cầu xin. Bài thánh ca tiếp liên ngày lễ Đức Chúa Thánh Thần là lơi mời gọi đến thờ lạy Ngài.

Lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống 2014


CHIA SẺ: BÀI MỚI

GIÁO HỘI: BÀI MỚI

MẸ MARIA - THÁNH GIUSE - CÁC THÁNH: BÀI MỚI

VĂN HÓA: BÀI MỚI

DI CẢO LM. J.H

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Affiliate Network Reviews