Thứ Sáu, ngày 27 tháng 2 năm 2015

HIẾN LỄ CỦA TỔ PHỤ ABRAHAM



Lm.Daminh nguyn ngc Long 


„ Ngày y, Chúa thAbraham và nói vi ông rng: "Abraham, Abraham!" Ông đáp li: "D, con đây". Chúa nói: "Ngươi hãy đem Isaac, đa con mt yêu du ca ngươi, và đi đến đt Moria, đó ngươi sdâng nó làm ca ltoàn thiêu trên núi Ta schcho ngươi".

Khi hai ngưi đến nơi Chúa đã ch, Abraham làm mt bàn thvà cht ci lên, ri trói Isaac li, đt lên bàn thtrên đng ci. Abraham giơ tay ly dao đsát tế con mình. By githiên thn Chúa ttri gi ông rng: "Abraham, Abraham!" Ông thưa li: "D, con đây". Ngưi nói: "Đng giết con trvà đng đng đến nó, vì giđây ta biết ngươi kính sChúa, đến ni không tchi dâng đa con duy nht cho Ta".

Abraham ngưc mt lên, thy sau lưng mình có con cu đc đang mc sng trong bi cây, Abraham lin bt nó và tế lthay cho con mình. Thiên thn Chúa gi Abraham ln thhai và nói rng: "Chúa phán: Ta thrng: vì ngươi đã làm điu đó, ngươi không tchi dâng đa con duy nht ca ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi, Ta cho ngươi sinh sn con cái đông đúc như sao trên tri, như cát bãi bin; miêu dungươi schiếm ca thành ca quân đch, và mi dân tc trên mt đt sđưc chúc phúc nơi miêu dungươi, vì ngươi đã vâng li Ta“ Sách Sáng Thế 22, 1-13

Đan Kin thánh trong sách Sáng Thế thut li lch stphAbraham đã sng vâng li Thiên Chúa như thế nào.

Ngưi đc ngày này không sao hiu ni ti sao Thiên Chúa lài ththách Abraham đến đnguy him mang tính cách dã man như thế?

Con ngưi chúng ta khi nghe tin ngưi nào bsát hi thương tích, bchết, ai cũng bt bình gin dvi li sng man rvi phm phá hy hy ssng.

Cách đây tám năm trong mt bui tĩnh tâm dành cho các bn tr, mt ngưi mcùng theo con đến tham dnghe ging. Vging tĩnh tâm hôm đó cũng đem đon Kinh Thánh này ra ging làm đtài nói vsvâng li Thiên Chúa.

Bà mgìa đó đng lên phát biu vi nim ttin“ “ thưa cha, nếu Chúa mun, con sn sàng hy sinh giết con ca con cho Ngài.“

Chi trưng im lng không mt ai nói li gì. Mt bn trva cm đng nc nkhóc va nói trong dòng nưc mt, nưc mũi chan hòa chy dài trên gương mt: „Thưa bà, sao bà là mli ác tâm như thế vi chính con ca mình. Con ca bà, cũng như con đây là do Chúa dng nên. Ssng chúng con là ân đc Chúa ban cho cha mchúng con mà. Nếu Bà gin anh ta, bà có thmng, nhưng bà không đưc sát hi ssng anh ta. Anh ta là con ca Bà. Sát hi phá hy ssng ngưi khác là mt trng ti.

Con nghĩ kiu cách mun sng vâng li như bà nói không đp lòng Thiên Chúa đâu. Và Thiên Chúa cũng đâu có đòi hi như thế bao gi. Con ngưi chúng ta, tính khí hay thay đi, nên rt nhiu khi nói năng, làm hành đng đi qúa khnăng gii hn ca mình. Và như thế có khác chi chng tmình đo đc, mình khôn ngoan anh hùng…Theo con nghĩ, đó là skhoe khoang, kiêu ngo ga hình bên ngoài mt tin. Li sng không chân tht đó đâu có li giúp ích gì cho ai đưc…“

Phi, Thiên Chúa dng nên ssng con ngưi. Ngài không đòi buc con ngưi phi vâng li hy sinh ssng con mình cho Ngài bao gi.

Trong đi sng, cũng như trong trưng hp tphAbraham đây, con ngưi chúng ta cũng gp phi trưng hp rt khó khăn khi phi quyết đnh mt bên là Thiên Chúa và mt bên là đi sng con ngưi chúng ta. Trong nghi nan lưng l, Thiên Chúa không mun Abraham làm điu trng ti phá hy ssng con mình là Isaac, nhưng Ngài hình nh Thiên Chúa sng đng thhin trong đi sng Abraham.

Ngài không mun như Abaham làm sát tế hy ssng con mình như làm „ca tế lthn minh.“. Không, điu đó Thiên Chúa không mun.

Trong đi sng, chúng ta cũng đt ra thn thánh cho mình như thn minh danh vng chc quyn đa v, thn minh tin bc, thn minh lòng ích kcái tôi, thn minh kiêu ngo khoe khoang…Và vì thế, nhiu khi nhng „ thn minh“ đó trng hơn chính ssng ca con mình. Trong bu khí như thế chính ngưi con mình sinh ra làm sao có thsng ni.

Bài tưng thut viết, Thiên Chúa can thip vào ngay. Ngài sai Thiên Thn đến can ngăn không cho Abraham giết con Isaac làm vic tế lthn minh. Thiên Thn đã mmt Abraham ra cho ông nhìn thy mt con dê rng đang đó. Hình nh con dê rng đó tưng trưng cho sc mnh quyn riêng lợi ca Abraham. Đôi khi Abraham phi hy sinh chính sc mnh quyn lợi riêng ca mình, và như thế ngưi con ca Abraham mi sng đưc.

Nhng li nói ca bn trtrong bui tĩnh tâm như kli trên đây có khác nào giúp ngưi mđó, và nhiu cha mkhác na, phi suy nghĩ đến vic đào to giáo dc con mình: không đưc vì quyn li mình, vì tính toán riêng mình mun đt kết qa đích đim ca mình, mà làm cho con trai, con gái mình không sao sng ni, không sao vươn lên phát trin nhng khnăng còn đang tim tàng , mà Thiên Chúa đã to dng ban phú cho đi sng ca h.

Chúa nht thhai mùa chay


THEO DẤU VẾT ĐỨC TIN TRÊN NÚI TABOR



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long


Phúc âm Chúa Giêsu theo Thánh Mattheo  (17, 1-8), theo Thánh Maco (9,2-13), và theo Thánh Luca (9, 28-33) viết thuật lại quang cảnh Chúa Giêsu đem theo ba môn đệ Phero, Gioan và Giacobe lên núi cao. Trên đỉnh núi Chúa Giêsu biến hình với hai vị Tiên tri Maisen và Elija.

Phúc âm không nói đến tên ngọn núi nào. Nhưng theo truyền thống và khoa khảo cổ nghiên cứu đó là ngọn núi Tabor.

1. Ngn núi Tabor


Núi Tabor cao 558 mét trên mặt nước biển ở vùng miền Galile phía Bắc nước Do Thái. Ngọn núi này cao hơn mặt đất ruộng vùng dưới chân núi 300 mét.Từ xa ngọn núi có hình thế như một qủa đồi có cấu trúc một qủa cầu hình tròn. Theo phỏng đoán ngọn núi được hình thành do phún xuất thạch của núi lửa phun ra từ thời cxa xưa tồn đọng lại, mặc dù đá ở đây là loại đá vôi.

Vào mùa Xuấn thảo mộc cây hoa huệ nhiều thứ loại mọc trổ bông hoa nơi đây rất đẹp.

Từ trên cao đỉnh núi người ta có thể quan sát nhìn toàn cảnh xung quanh rt hùng vĩ thơ mng. Có thể vì đó, nơi đây thời xa xưa cũng là nơi thờ tự kính thần linh của người Canaan. Và ngọn núi này cũng có xây tường thành lũy để bảo vệ thành phố làng mạc xung quanh bên dưới. Dấu vết này người ta tìm thấy ở khắp nơi trong vùng này kéo dài ngược về thời trước tới năm 7000 trước Chúa giáng sinh.

Theo sách Kinh Thánh, sau khi dân Do Thái về đến miền đất Chúa hứa từ Ai Cập trở về, ngọn núi này là trở thành ranh giới gia chi tc Sebulon, chi tộc Issacha và chi tộc Neptali - (Sách Giosua 19,10/34). Với họ ngọn núi này là nơi thánh thờ tự, họ mang lễ vật hiến lễ đến đây hiến tế thờ kính thần thánh- (Sách Dân số 33,19). Ngôn sứ Hosea lên án tục lệ thờ cúng này, vì nó mang gây ra sự tách ly chia rẽ ,và còn chứng tỏ sự ăn chơi tội lỗi - (Sách Hosea 5, 1).

Tác gỉa Thánh Vịnh 89,13 đã nói đến tên núi Tabor cùng với núi Hermon như hình ảnh của tất cả mọi núi trên mặt đất. Còn Ngôn sứ Gieremia so sánh nó với sự vượt trội về sức mạnh của quân Nabukadnesa trên quân thù (Giêremia 46,18) .

2. Tabor, nơi tht

Các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu vết một thánh địa được xây dựng trên núi Tabor có từ thời thế kỷ 4. hoặc thứ 5., và cả những di tích nơi thờ kính thần thánh của người Canaan ngày xưa đã xây ở đây còn lưu sót lại.

Cũng có một vài chứng minh cổ xưa còn cho rằng nơi đây Thánh nữ Helena có thể đã xây một đền thờ. Những người hành hương hồi thế kỷ 6. và 7. còn nói đến ba vương cung thánh đường đã được xây ở đây. Ba vương cung thánh đường nhắc nhớ đến lời Thánh Phero xin làm ba lều, khi chứng kiến thấy cảnh Chúa Giêsu biến hình cùng với Tiên tri Maisen và Elija.

Người ta cũng thuật lại nơi đây ngày xưa có thời là nơi các vị Tu sỹ đến hội họp sinh sống. Và ngày nay còn tìm thấy một bức tranh khắc ráp theo hình thể Mosaic trên nền nhà vào thời xa xưa đó.

Năm 533 sau Chúa giáng sinh Công đồng Constantinople họp trên núi Tabor. Năm 808 sau Chúa giáng sinh 18 Tu sỹ cùng với Giám mục Theophanes đến đây cư ngụ chăm sóc ngôi thánh đường trên núi Tabor.

Năm 1101 sau Chúa giáng sinh các Tu Sỹ Dòng Bebedictô đến xây dựng lập Dòng sinh sống tu trì, xây đền thờ trên núi Tabor. Nhưng khoảng từ năm 1212 sau Chúa giáng sinh, quân Sarazenen đến xâm chiếm nhà Dòng. Họ xây thành lũy chống kẻ thù. Sau đó những tín hữu Chúa Kito được phép nhận lại đất địa nơi đây. Đến 1263 sau Chúa giáng sinh quân của Sultan Bibars đến xâm chiếm và phá hủy toàn bộ cơ sở.

Từ thời điểm này núi Tabor hoàn toàn bỏ trống cho đến 1631 sau Chúa giáng sinh các Tu Sỹ Dòng Phanxico đến lập nhà Dòng, xây vương cung thánh đường trên ngọn núi này vào năm 1924.

3. Vương cung thánh đường Chúa biến hình

Trên đỉnh núi một đại lộ rộng lớn có cổng dẫn vào vương cung thánh đường Chúa biến hình được Dòng Phanxico xây dựng năm 1924 theo hình dạng ba cánh hình con thuyền trên nền tảng của nền đền thờ cũ.

Ngoài mặt tiền vương cung thánh đường có một vòng cung ở giữa hai tháp vươn cao làm thành như một bức tường có ba phần vươn lên trời . Hình ảnh này như chào đón khách hành hương đến viếng đền thờ , và đồng thời cũng nhắc gợi tâm trí nâng tâm hồn lên cao. Ba hình vòng cung mặt tiền ngoài đền thờ nhắc nhớ đến Chúa Giêsu biến hình đàm đạo với hai Tiên Tri Maisen và Elija trên núi này.

Trong vương cung thánh đường ở hai bên phía cuối có hai nhà nguyện nhỏ, một kính Thánh Tiên tri Maisen ở bên trái và một ở bên phải kính Thánh Tiên Tri Elija. Phía cung thánh là bàn thờ kính Chúa Giêsu biến hình. Trên trần cung thánh có hình khắc mầu vàng sáng chói vẽ quang cảnh Chúa Giêsu biến hình đang nói chuyện với hai Thánh Tiên tri và sự hiện diện của ba môn đệ Phero, Gioan và Giacobe.

4. Thi đim và mi tương quan

Phúc âm theo Thánh Mtheo và Maco nói 6 ngày sau đó Chúa Giêsu mang theo ba môn độ lên núi. Còn Thánh Luca viết 8 ngày sau đó. Thời gian sáu hay tám ngày cho ta thông tin vào dịp tuần lễ Sukkot - lễ Lều trại của nười Do Thái- Và như thế Chúa biến hình vào ngày sau cùng của lễ Sukkot.

Lễ Sukkot - Lễ Lều trại - theo số nhiều là Sukka, của người Do Thái là một trong ba lễ hành hương trong đạo Do Thái . Lễ mừng này diễn ra vào mùa Thu trong tháng 9. hoặc tháng 10. và kéo dài 7 ngày, từ ngày 15. đến ngày 21 tháng Tischri tháng thứ bảy theo niên lịch Do Thái. Lễ Sukkot, lễ Lều trại, năm 2015 sẽ diễn ra từ ngày 28. tháng chín đến 04. tháng mười.

Biến cố Chúa Giêsu biến hình trong mối liên quan với lễ Sukkot của đạo Do Thái nói lên tất cả lễ mừng trong đạo Do Thái đều có bao gồm khía cạnh: đến từ niềm tin thiên nhiên, nói về Đấng Tạo Hóa và công trình sáng tạo, nhắc nhớ đến việc Thiên Chúa làm và sau cùng đưa đến lễ niềm hy vọng Thiên Chúa đến. Ngài đến để hoàn thành công việc cứu chuộc cùng mang lại sự hòa giải với toàn thế công trình sáng tạo.

Những biến chuyển lớn trong cuộc đời Chúa Giêsu đều có liên quan mật thiết tới lể mừng trong đạo Do Thái. Trong nghi lễ phụng vụ của đạo Do Thái ý tưởng về sự mong đợi, sự sống luôn đóng vai trò chính yếu trung tâm.

Cũng có suy diễn cho rằng biến cố biến hình của Chúa Giêsu thời Tân ước đối chiếu với biến cố lên núi của Tiên Tri Maisen ngày xưa thời Cựu ước trên núi Sinai như trong sách Xuất hành 24, 16  thuật lại-

Hình ảnh này được vẽ trên tường chung quanh nhà nguyện Sixtina ở Vatican, một bên là những hình ảnh biến cố thời Cựu Ước và một bên đối diện là những biến cố thời Tân ước với Chúa Giêsu - trong số đó có quang cảnh biến cố cảnh Maisen lên núi Sinai nhận bản Lề luật của Thiên Chúa và hình ảnh cảnh Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor.

Tiên tri Maisen lên núi Sinai theo lệnh của Thiên Chúa với ba cộng sự viên Aaron, Nadab và Abihu. Chúa Giêsu lên núi Tabor với ba môn đệ Phero, Gioan và Giacobe.

5. Nhng ngn núi và cuc đời Chúa Giêsu

Phúc âm thuật lại, Chúa Giêsu sinh ra trong hang chuồng xúc vật ngoài cánh đồng Bethlehem. Nhưng
cuộc đời rao giảng và chết sống lại cùng lên trời của Chúa Giêsu lại gắn liền với núi đá cao.

Ngài ăn chay nơi thanh vắng ở  hoang địa sa mạc, nhưng  lại bị ma qủi đưa lên núi cao dụ dỗ. Bài giảng đầu tiên Tám mối phúc thật Chúa Giêsu giảng từ trên núi cao, ngài thường tìm lên núi cu nguyện, biến hình trên ngọn núi Tabor, trong núi vườn cây dầu hấp hi lo buồn đổ mồ hôi máu, bị đóng đinh chịu tử hình trên núi sọ Golgotha và sau cùng sống lại lên núi cao trở về trời cùng Thiên Chúa Cha.

Song song trước đó trong thời Cựu ước là những ngọn núi Sinai, Horeb, Morija, là những ngọn núi mạc khải và đồng thời nói về ngọn núi đền thờ.

Như thế núi là hình ảnh nói về nơi chốn đi lên, không phải chỉ khung cảnh hình thức bên ngoài, nhưng mang sâu đậm ý nghĩa thâm sâu của nội tâm. Núi cao như hình ảnh sự giải thoát khỏi những gánh nặng trong đời sống hằng ngày, trên núi cao người ta hít thở không khí trong lành của công trình thiên nhiên, từ trên núi cao người ta có tầm nhìn bao quát xa rộng của cảnh thiên nhiên và vẻ đẹp của nó rõ hơn.

Thánh sử Luca, người duy nhất viết tường thuật: „Đang khi Chúa Giêsu cầu nguyện, ngài biến hình. mặt ngài sáng chói, áo ngài trắng như tuyết.“ (Lc 9,29). Như thế cuộc biến hình là một biến cố cầu nguyện.

Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Đức Chúa Cha. Tâm hồn ngài kết hợp với Thiên Chúa Cha. Trong sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Cha, Đấng là ánh sáng tinh ròng, Chúa Giêsu đã trở thành ánh sáng, trong ánh sáng Thiên Chúa và trong ánh sáng của chính ngài là Con Thiên Chúa.

Ngày xưa Tiên tri Maisen lên núi Sinai gặp gỡ Thiên Chúa, khi xuống núi „ da mặt ông  chiếu sáng“ ( Sách Xuất hành 34,29). Do được nhìn thấy cùng nói chuyện với Thiên Chúa, ánh sáng của Thiên Chúa chiếu tỏa trên ông, và làm cho ông trở nên sáng chói.

Như thế có thể nói, từ bên ngoài ánh sáng chiếu trên Maisen làm cho ông thành ánh sáng chiếu tỏa ra. Còn Chúa Giêsu thì không vậy, Ngài chiếu sáng từ trong thâm tâm tâm hồn của chính ngài ra bên ngoài. Ngài không chỉ tiếp nhận ánh sáng từ Thiên Chúa, mà chính ngài là ánh sáng bởi ánh sáng.

Áo Chúa Giêsu trở nên trắng sáng chói lúc biến hình là hình ảnh diễn tả tương lai ơn cứu độ của con người chúng ta. Trong sách Khải Huyền của Thánh Gioan, áo trắng là hình ảnh diễn tả bản chất của nước trời, áo của các Thìên Thần trên trời, áo của của những người được Chúa cứu độ. Áo của những người được cứu độ trắng tinh ròng , vì họ được tắm rửa trong máu Con Chiên. ( Kh 7,14.) 

Hình ảnh này nhắc nhớ đến tấm áo trắng ngày nhận lãnh Bí Tích rửa tội. Qua Bí tích rửa tội được cùng liên kết với sự thương khó của Chúa Giêsu. Và sự thương khó khổ nạn của Chúa Giêsu thanh tẩy họ trở nên trong trắng tinh tuyền khỏi vết nhơ tội lỗi. Qua bí tích rửa tội chúng ta được cùng với Chúa Giêsu Kitô mặc chiếc áo trắng ánh sáng tinh tuyền và trở thành ánh sáng.

Phúc âm thuật lại Thánh Phero sau khi ngủ mê bừng tỉnh nói với Chúa Giêsu „ Thưa Thầy, ở đây thật hay. Chúng con xin dựng ba lều, một cái cho Thầy, một cái cho Maisen và một cái cho Elija“.

Tại sao Thánh Phero lại nói đến những chiếc lều mà không nói đến điều gì khác hơn nữa?

Như đã nói, cuộc biến hình của Chúa Giêsu trên núi cao Tabor trùng vào ngày chót của lễ Sukkot, lễ lều trại, trong đạo Do Thái. Ngày lễ này theo sách Levi 23, 41- 43 nói rõ“ Các ngươi phi mng lSukkot, lLu tri, như mt lkính Đức Chúa trong vòng by ngày mi năm: đó là quy tc vĩnh vin cho các thế hca các ngươi. Vào tháng thby, các ngươi phi mng lễ đó . Trong vòng by ngày, các ngươi phi trong lu bng cành cây, mi người bn xti Israel phi trong lu bng cành cây, để các thế hca các ngươi biết rng Ta đã cho con cái Israel trong lu bng cành cây, khi ta đưa chúng ra khi đất Ai Cp. Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa ca các ngươi.

Lễ lều trại với những chiếc lều làm bằng cành cây thiên nhiên không chỉ nhắc nhớ đến kỷ niện biến cố bảo vệ gìn giữ của Thiên Chúa cho dân Do Thái ngày xưa đi trong sa mạc, nhưng còn nói đến điều quan trọng hơn nữa về một lễ lều trại tương lai sau này cho mọi người trong thời gian đang tới, mà nơi đó họ được cứu thoát cư ngụ. Như vậy lễ Lều trại nói lên đặc tính về một ý nghĩa thời gian cứu độ ngày sau cùng.

Thánh Phero người Do Thái cùng là tín hữu theo đạo Do Thái chắc chắn đã biết cùng hiểu ý nghĩa đạo đức thần học của lễ Sukkot, lễ Lều trại, mà Ông cùng với Chúa Giêu vừa mừng.

Ông cũng vừa trước đó mấy ngày đã nói lên lòng tin của mình, khi ông tuyên xưng công khai Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa với Thầy mình.

Ông cũng thấu hiểu nhận ra trong thâm tâm thời giờ đấng cứu độ đang đến. Vì thế lễ Sukkot, lễ Lều trại, là hình ảnh gương mẫu cho tâm trí ông đang trong lúc ngây ngất được chiêm ngưỡng vẻ huy hoàng của Chúa Giêsu. Nên ông đã có suy nghĩ và nói đến dựng ba chiếc lều. Đó là những chiếc lều công trình sáng tạo của Thiên Chúa, những chiếc lều lịch sử ơn cứu độ và những chiếc lều niềm hy vọng. 

Lời nói của Phero xin làm ba Lều không là bộc trực ngẫu hứng do cảm tính. Nhưng là kết qủa của một đời sống từ một con người có tâm hồn đạo đức yêu mến những gì có liên quan đến việc làm ơn cứu độ của Thiên Chúa đã, đang cùng sẽ mang lại ảnh hưởng sâu rộng tích cực cho đời sống con người.

***************
Trên núi Sinai, Thánh tiên tri Maisen tiếp nhận bản Lề Luật, Thora, của Thiên Chúa cho dân Israel trong thời Cựu Ước.

Còn trên núi Tabor chính Chúa Giêsu tỏ mình ra là Thora, sách Lề Luật thời Tân ước cho toàn thể nhân loại.

Trên núi Sinai, Thiên Chúa đã mặc khải cho Maisen bản Lề Luật của Người truyền cho dân Israel. Họ phải căn cứ theo luật này mà sống.

Trên núi Tabor biến hình, Chúa Giêsu mạc khải cho ba môn đệ không chỉ vinh quang của Thiên Chúa, nhưng còn về cuộc xuất hành chịu khổ nạn thương khó của Ngài bắt đầu ở Giêrusalem. Cuộc thương khó khổ nạn của ngài mang lại ơn cứu chuộc niềm hy vọng cho mọi con người. Và Thiên Chúa Cha trên núi này đã mặc khải cho ba môn đệ biết về Chúa Giêsu là Con yêu dấu của Ngài.

Đức Thánh giáo hoàng Gioan Phaolo đệ nhị, khi còn sinh thời đã lập ra nguyện ngắm sự sáng trong cho chuỗi tràng hạt mân côi:

Thbn thì ngm: Đc Chúa Giêsu biến hình trên núi. Ta hãy xin cho đưc lng nghe và thc hành li Chúa.

Knim chuyến hành hương Kẻ đi tìmsang thăm viếng đất Thánh Do Thái tngày 02. đến 12. Tháng Hai 2015 ca 51 thành viên giáo hu Chúa Kitô vi Cha Giuse Nguyn trng Tước.

Chúa nht thhai mùa chay
_______________________________________ 

Ly cm hng t:

- Joseph Ratzinger BENEDIKT XVI. JESUS von Nazareth I., Herder Fr. im Bresgau 2007, Chương hai trang 353 - 365.
-   Heinz Schuermann, Das Lukasevangelium, chương 1,1-9,50, Sonderausgabe, Herder i. Bresgau 1984.
-   Nguyn tm Thưng, Kđi tìm, 34 bài suy nim trên đưng đi, in ln thhai 2009, chương 25. và 26. vChúa Giêsu biến hình trên núi Tabor.
 
   

Thứ Năm, ngày 19 tháng 2 năm 2015

CON DÊ HIẾN TẾ



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long


Dê là loái thú vật vừa hoang dã trong vùng rừng núi nơi khô cao, cũng vừa là thú vật nuôi ở nhà, theo ngôn ngữ văn chương khoa học được gọi là Sơn dương. Loài thú vật này không hung dữ làm hại người. Chúng có sừng rắn cứng, thân thể chúng mạnh mẽ , có bốn chân chạy nhảy nhanh lẹ. Thức ăn của chúng là cỏ, lá cây thực vật.

Con Dê không tượng trưng cho hình dáng đẹp tích cực, trái lại là hình ảnh nói về sự tiêu cực, như „ cứng đầu như Dê“, hay „bộ chòm râu Dê“.

Loài Dê cũng được nuôi như loài thú vật heo gà trong nhà. Nó cũng mang lại lợi ích kinh tế. Vì Dê cung cấp sữa để làm phó mát vị mặn mà, và thịt dê cũng là món ăn đặc sản.

Bên vùng Trung Đông ngày xưa, ai có nhiều thú vật Dê là người giầu có về tài sản vật chất như nói trong sách Sáng Thế 38,17.

Dê thời xa xưa cũng có gía trị để đổi chác trong việc mua bán giống như tiền bạc, hay được dùng là qùa tặng biếu xén Ezekien 27,21, Sáng Thế 38,17.20, Sách Thẩm Phán 15,1.

Trong Kinh Thánh Cựu ước con Dê là hình ảnh của quyền lực sức mạnh. Sách Ngôn Sứ Daniel 8,4-8.21 diễn tả sức mạnh quyền lực của đại đế Hy lp Alexander bằng hình ảnh con Dê có sừng đã đánh bại những vị vua khác của dân Meder và Batư.

Sách Diễm tình ca 4,1 và 6,5 theo cung cách lãng mạng đã ca tụng mái tóc đen óng ả rủ xuống trên đầu của người tình tựa như hình ảnh đàn Dê - Sơn dương - chạy nhảy trên sườn núi cao xuống bên dưới.

Trong Kinh Thánh hình ảnh Dê tượng trưng cho sự xấu và tội lỗi. Từ ngữ con Dê con vật tế lễ đền tội có viết trong Sách Leviticus 9,3.

Nghi lễ dùng con Dê hiến tế đền tội được cử hành như sau:„ Aaron sẽ đặt hai tay lên đầu con dê còn sống , sẽ xưng thú trên con vật mọi lỗi lầm ca con cái Israel, mọi việc phản nghịch  của chúng,  nghĩa là mọi tội lỗi chúng, nó sẽ trút cả lên đầu con dê, rồi dùng tay  một người đang chờ sẵn mà thả vào sa mạc. Con dê sẽ mang trên mình mọi lỗi lầm của dân chúng vào sa mạc.“ Leviticus 16, 21-22.

Chúa Giêsu trong dụ ngôn về ngày phán xét chung cũng nói đên dê là hình ảnh chì về những người tội lỗi bị hình phạt: „ Khi Con Người đến trong vinh quang, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự trên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải, còn dê ở bên trái.“ Mt 25, 31-33.

m nay con dê là hình ảnh theo vòng chu kỳ âm lịch, mỗi năm có một con vật làm chủ tượng trưng cho năm đó. Năm âm lịch có tên Ất Mùi theo tập tục văn hóa truyền thống Á Đông Việt Nam.

Chúng ta đón mừng mùa Xuân năm mới Ất Mùi với tâm hồn vui mừng cùng hòa nhịp với nếp sống văn hóa dân tộc là cội nguồn của đời sống con người việt Nam chúng ta.

Vui mừng đón mùa Xuân mới trong niềm hy vọng cậy trông vào Thiên Chúa, đấng là chủ thời gian năm tháng ngày giờ, và đời sống con người.

Mừng mùa Xuân mới Ất Mùi 2015

TRƯỚC BÀN THỜ TỔ TIÊN NGÀY TẾT



Lm. Đaminh Nguyễn ngọc Long 


A.Dâng hương

Theo luật tuần hoàn của vũ trụ, năm Giáp Ngọ âm lịch đi vào qúa khứ . Và năm mới Ất Mùi âm lịch đang về với đất trời cùng với lòng con người.

Chúng ta, những người con dân đất nước Việt Nam, dù sinh sống nơi đâu trên thế giới, đều đón mừng mùa xuân năm mới Ất Mùi với tâm hồn vui mừng rộn rã.

Đó là tập tục văn hóa đã khắc ghi trong dòng máu chúng ta. Và đó cũng là nếp sống đạo đức làm người trong tương quan với Đấng Tạo Hóa càn khôn, và với xã hội con người.

Đón mừng mùa Xuân năm mới, nhưng tâm hồn ta luôn hướng về cội nguồn Tổ tiên quê hương tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Trước bàn thờ Đấng Tạo Hóa càn khôn, và bàn thờ Tổ Tiên xin cùng thắp những nén nhang lòng yêu mến nhớ về cội nguồn của chúng ta.   

Thành kính dâng li tttiên,
Đầu nơi ci mch lp gia hin.
Khơi ngun ta sui trôi liên l,
Trrnhư cây mc vng bn.
Đứng mũi chche giông chng qun,
Chu sào chèo chng bão không nghiêng.
Mãn phn an nghvThiên quc,
Thp nén trm hương nhcu huyn.

B.12 cây nến nguyn cu

1. Kính lạy Đấng tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa Xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến tâm tình tơn Đấng Tạo Hóa luôn hằng chúc phúc lành che chở cho đời sống chúng con thời gian năm cũ Giáp Ngọ vừa qua. 

2. Kính lạy Đấng tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa Xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến lòng ái quc cho quê hương tổ quốc, cho Tổ Tiên chúng con đã dầy công lao xây dựng, gìn giữ quê hương đất nước Việt Nam từ ngàn xưa. 

3. Kính lạy Đấng Tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến chúc phúc lành cho dân tộc Việt Nam chúng con, trong mọi hoàn cảnh luôn đặt niềm tin tưởng vào Đấng Tạo Hóa, Đấng là nguồn mạch mọi ân đức chúc phúc lành.

4. Kính lạy Đấng Tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến lòng hiếu tho biết ơn Ông Bà Cha Mẹ chúng con, những người đã sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục đào tạo chúng con nên người ở đời.

5. Kính lạy Đấng tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến gia đình. Xin cho các gia đình có được đời sống no cơm ấm áo, hòa thuận thương yêu nhau, phát triển tình nghĩa giữa các thành phần trong gia đình với nhau.

6. Kính lạy Đấng Tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến nim vui tui xuân xanh cho con em bạn trẻ chúng con.  Xin cho họ sống khoẻ mạnh hồn xác, học hành tấn tới, thành công trong việc làm, cùng tin tưởng vào ngày mai.

7. Kính lạy Đấng Tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến tình yêu cho các người trẻ đang trên đường đi tìm xây dựng con đường đời sống, lòng hăng say mong muốn dấn thân phục vụ con người, nhận ra dấu chỉ tín hiệu của ý Chúa muốn cho đời sống họ hôm nay và ngày mai.

8. Kính lạy Đấng Tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến hòa bình cho những đất nước trên thế giới đang sống trong những biến chuyển chiến tranh có nhiều đe dọa xáo trộn, bị phân ly chia rẽ sống đời lưu lạc tỵ nạn, có được hòa bình công lý, đời sống an cư lạc nghiệp trở lại.

9. Kính lạy Đấng Tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến nim an i cho những người bị bệnh tật yếu đau, những người sống trong hoàn cảnh nghèo túng, trong thiên tai, nhận được sự trợ giúp tình người.

10. Kính lạy Đấng tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến lòng nhân đo cho những người bị đối xử phân biệt ngược đãi bất công, cho những thai nhi bị phá hủy sự sống ngay từ cung lòng mẹ, được tôn trọng phẩm gía là con người do Thượng Đế tạo dựng nên.  

11. Kính lạy Đấng Tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến nim hy vng cho những người sống trong thất vọng cô đơn, cho những người bị bỏ rơi khinh miệt, cho những người bị vướng mắc vào hoàn cảnh tù đày bạc đãi, được tìm thấy ánh sáng tự do vươn lên cho đời sống.

12. Kính lạy Đấng tạo Hóa càn khôn là Chúa mùa xuân năm mới, xin dâng lên bàn thờ cây nến ssng nơi cõi vĩnh hng
-cho những người đã dấn thân hy sinh tính mạng gìn giữ bảo vệ tổ quốc quê hương Việt Nam chúng con,
-   cho Tổ Tiên , Ông bà, Cha mẹ, vợ hay chồng, con cháu, anh chị em, bạn bè, thầy cô giáo, những người thân yêu trong gia đình, mà nay đã về cùng Thiên Chúa.
- cho các Linh mục, các vị Tu sỹ nam nữ đã qua đời.
- cho các người đã bỏ mình trong chiến tranh loạn lạc, bị khủng bố, bị chết vì đói khát nghèo túng bệnh tật.
- cho những người đã sống làm ơn cho chúng con trong đời sống, mà nay tất cả đã khuất núi ra đi về đời sau.

Trước bàn thờ Chúa cùng theo làn khói ánh nến tỏa lan lung linh, chúng con chân nhận rằng:

„ Nhc thly trn lưu cát bi,
Hn thiêng thoát tc nhp thiên cung.“ Amen.

Mùng Một Tết Ất Mùi 2015


Thứ Hai, ngày 09 tháng 2 năm 2015

CHÚA GIÊSU SINH RA VÀO NĂM NÀO?


Phan Tấn Thành

Có người quả quyết rằng Chúa Giêsu không phải sinh vào năm 1, nhưng là trước đó mấy năm.

Chuyện thực hư như thế nào?
Chúng ta vừa mới bắt đầu một năm mới, và bóc một quyển lịch mới. Thường các quyển lịch bày bán ở Việt Nam đều có ghi dương lịch và âm lịch. Chúng ta thường nghe giải thích rằng dương lịch là lịch dựa theo mặt trời, còn âm lịch thì dựa theo mặt trăng. Và không thiếu lần để cho giản tiện hơn, người ta gọi dương lịch là lịch tây, còn âm lịch là lịch ta. Tính theo dương lịch thì năm nay là 1996, còn âm lịch là Bính tý. Đối với âm lịch, chúng ta biết rằng cách tính dựa trên sự phối hợp giữa thập can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) với thập nhị chi (Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Do sự phối hợp giữa các can với các chi ta sẽ có một chu kỳ 60 năm. Thí dụ năm Bính tý lần trước cách đây 60 năm, vào năm 1936. Còn năm dương lịch thì căn cứ vào đâu? Khởi đầu từ đâu mà chúng ta tính ra 1996 năm? Người Kitô hữu biết rằng tính từ năm Chúa Cứu thế giáng sinh, khởi đầu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Kitô, tuy rằng ở Việt Nam để tránh né mầu sắc tôn giáo người ta gọi là “công nguyên”.

Nhưng mà vừa khi Chúa Giêsu mới sinh ra thì thiên hạ bắt đầu thay đổi niên lịch ngay hay sao?
Làm gì có chuyện đó được! Chúa Giêsu không sinh ra như một hoàng tử trong cung điện! Người chỉ là một hài nhi con nhà nghèo ở Bêlem một thôn nhỏ bé chẳng có tiếng tăm gì. Phúc âm không cho biết là Chúa Giêsu sinh vào năm nào. Chỉ có vài dấu chỉ để từ đó suy đoán thôi, thí dụ như vào thời Vua Hêrôđê cai trị miền Giuđê (Luca 1,5), cuộc kiểm tra dân số dưới thời hoàng đế Augustô (Luca 2,1-2). Có người còn muốn đi xa hơn nữa khi họ muốn gắn liền ngôi sao xuất hiện cho các chiêm tinh bên Đông (Mt 2,1-2) với hiện tượng sao chổi xuất hiện. Tuy nhiên, xem ra các thánh sử không đặt nặng thời điểm của Chúa Giêsu sinh ra cho bằng thời điểm Ngài bắt đầu cuộc đời công khai. Thực vậy, ở đầu chương 3, thánh Luca cho biết rằng Chúa Giêsu bắt đầu thi hành sứ mạng “vào năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô”, và ở câu 23 Luca thêm rằng lúc đó Ngài trạc ba mươi tuổi.

Vậy là quá rõ rồi, còn muốn gì hơn nữa?
Dĩ nhiên rồi: chỉ cần biết hoàng đế Tibêriô lên ngôi năm nào, rồi đi ngược lại 15 năm là biết được năm sinh của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, trước khi đi vào chi tiết chúng ta nên ghi nhận cách tính niên lịch thời đó. Thánh Luca tính theo triều đại của một hoàng đế Rôma, một phương pháp khá thịnh hành kể cả tại Việt Nam trước đây, thí dụ cho đến thế kỷ XX này, các cụ còn tính niên lịch theo triều của nhà Vua; rồi sau khi chế độ quân chủ cáo chung, người ta lại tính niên hiệu từ ngày thành lập nền Cộng hoà (Việt Nam Cộng hoà năm thứ nhất, thứ hai vv). Trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, các tín hữu sinh sống trong lãnh thổ của Đế quốc Rôma nên cũng theo cách tính niên lịch của Rôma. Người Rôma có hai niên lịch. Một đàng là dựa theo năm thành lập thành phố Rôma (ab Urbe condita), tương đương với năm 753 trước công nguyên; cách thứ hai là dựa theo các quan Tổng tài (consul) và hoàng đế. Sang đến thế kỷ III lại nảy ra một cách tính thứ ba nữa, đó là tính từ năm hoàng đế Đioclêxianô lên ngôi. Thực ra thì lúc đầu lịch này chỉ phổ biến ở miền Cận đông, nhưng mà dần dần nó cũng lan sang các vùng khác nữa, và trở thành khá phổ thông kể cả trong Giáo hội. Tiếc rằng hoàng đế Đioclexianô là ông vua bắt đạo dữ nhất, cho nên nhiều người tín hữu không muốn nhắc tới tên của hoàng đế. Đó là lý do đưa tới việc nghĩ tới một niên lịch mới, nhất là kể từ khi Kitô giáo không còn bị bách hại nữa nhưng trở thành quốc giáo. Sáng kiến này thành hình vào thế kỷ VI (khoảng năm 533) ở Rôma, khi một tu sĩ tên là Điônixiô bắt đầu tính niên lịch theo kỷ nguyên Kitô, nghĩa là khởi đầu từ khi Chúa Giêsu sinh ra. Nhưng mà Chúa sinh ra năm nào? Lấy gì để làm mốc? Thực ra chúng ta không còn giữ được tài liệu làm việc của tu sĩ Điônixiô, nhưng đại khái có thể hình dung cách lập luận như thế này. Như đã nói trên đây, thánh Luca cho biết Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ vào năm thứ 15 của triều Tibêriô, và lúc ấy Chúa khoảng 30 tuổi. Như vậy là Chúa sinh ra vào năm thứ 15 trước khi Tibêriô lên ngôi. Do đó, có thể lấy mốc điểm là năm lên ngôi của hoàng đế Tibêriô.

Hoàng đế Tibêriô lên ngôi năm nào?
Hoàng đế Tibêriô kế vị hoàng đế Augustô vào ngày 19 tháng 8 năm 767 theo lịch của Rôma (nghĩa là tính từ khi thành lập thành phố Rôma). Năm thứ nhất của hoàng đế tính từ tháng giêng năm 768; trừ đi 15 năm thì ra năm 753. Như vậy Chúa Giêsu sinh ra vào ngày 25 tháng chạp năm 753 theo lịch Rôma. Kỷ nguyên Kitô (hay công nguyên) bắt đầu vào ngày 1 tháng giêng năm 754 của lịch Rôma.

Vì đâu mà người ta lại đưa ra giả thuyết là Chúa Giêsu sinh ra vài năm trước công nguyên?
Lịch Rôma không đơn giản như ta nghĩ, vì thế mà có nhiều vấn nạn đặt ra cho cách tính của tu sĩ Điônixiô, ngay từ thế kỷ VIII (do tu sĩ Bêđa bên Anh) và vào thế kỷ IX (do tu sĩ Reginô Prum bên Đức). Vấn nạn quan trọng nhất là vua Hêrôđê qua đời vào năm 750 của lịch Rôma, tương đương với năm thứ 4 trước công nguyên. Như vậy là tính sai rồi: Chúa Giêsu phải sinh ra trước khi vua Herôt qua đời chứ, bởi vì vua đã truyền sát hại các hài nhi ở Bêlem từ 2 tuổi trở xuống mà! Do đó, tối thiểu thì Chúa Giêsu phải sinh ra trước năm thứ 4 trước công nguyên. Nói cách khác, tu sĩ Điônixiô tính sai khoảng 4 hay 6 năm gì đó. Sự sai lệch đó có thể giải thích được, ở chỗ tu sĩ Điônixiô có lẽ không lưu ý tới cách tính lịch của Rôma và lối hành văn của thánh Luca.
1/ Xét về cách tính lịch của Rôma, thì nên biết rằng có hai lối để tính khởi điểm của triều hoàng đế Tibêriô. Lối tính thông thường hơn cả là bắt đầu kể từ khi vua Augustô băng hà và Tibêriô lên kế vị, vào năm 767 như đã nói trên. Nhưng mà có nơi khác thì niên hiệu khởi đầu từ khi ông Tibêriô được đặt làm phụ quyền nhiếp chính, nghĩa là 2 năm trước đó. Như vậy là đã có thể sai lệch 2 năm rồi.
2/ Một lý do khác đưa tới sự sai lệch là thánh Luca nói rằng Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ vào trạc 30 tuổi. Ta nên lưu ý là thánh sử không quả quyết rằng lúc ấy Chúa vừa tròn 30 tuổi, mà chỉ trạc 30: như vậy thì có thể là chưa tới 30 (27-28) mà cũng có thể là hơn một tí (32-33 gì đó). Một số nhà chú giải nhận xét rằng số 30 chỉ có tính cách tượng trưng mà thôi. Theo họ, Cựu ước nói tới việc ông Đavit được phong vương vào lúc 30 tuổi (2 Sam 5,4); ông Edêkiel nhân được ơn gọi ngôn sứ vào lúc 30 tuổi (Ed 1,1); ngoài ra sách Dân số chương 4 đòi hỏi tối thiểu phải được 30 tuổi thì mới có thể được tấn phong tư tế. Do đó, rất có thể thánh Luca không có ý kể lại tuổi thật của Chúa Giêsu cho bằng nêu bật sứ vụ công khai của ngài mang tính cách của một vua, ngôn sứ và tư tế.

Như vậy, nếu muốn sát với lịch sử thì phải mừng 2000 năm Chúa giáng sinh vào năm 1995-1996, chứ đâu cần phải chờ tới năm 2000?
Dưới khía cạnh toán học, thì quả đúng như vậy, bởi vì tu sĩ Điônixiô đã tính trật đi mất 5-6 năm. Tuy nhiên, chúng ta không mừng một hiện tượng thiê
n văn (tựa như 2 ngàn năm sao chổi xuất hiện) nhưng mà chúng ta cử hành một biến cố lịch sử. Biến cố Chúa giáng sinh đã khai mạc một kỷ nguyên mới trong lịch sử của loài người. Biến cố ấy đã trở thành trung tâm điểm của lịch sử nhân loại: tất cả các biến cố khác đều quy chiếu vào đó, nghĩa là dựa vào đó mà tính, hoặc là trước khi đức Giêsu sinh ra hay là sau khi đức Giêsu sinh ra. Sở dĩ các Kitô hữu đặt biến cố đức Giêsu sinh ra làm trung tâm điểm của lịch sử là bởi vì họ tin rằng đức Giêsu không phải chỉ là một vĩ nhân xuất chúng, nhưng là Thiên Chúa đã làm người, đi vào lịch sử của con người, chia sẻ kiếp sống của con người, để rồi dẫn đưa con người về với Thiên Chúa.
Nhưng đó là quan điểm của các Kitô hữu; còn các tín đồ của các tôn giáo khác thì sao?
Ở Việt Nam, chúng ta biết là các Phật tử sử dụng một niên lịch riêng (gọi là Phật lịch) tính từ Phật đản. Nếu tôi không lầm thì năm nay là 2540 PL. Các tín đồ Hồi giáo cũng có niên lịch riêng, khởi hành từ việc ông Mohamed phải bỏ Mecca để đi Medina, năm 622. Dù sao, thì ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng niên lịch theo kỷ nguyên Kitô. Như đã nói ở đầu, để khỏi đụng chạm, người ta gọi là “công nguyên”. Trên thực tế, việc áp dụng đã được tiến hành tuần tự: vào cuối thế kỷ VI tại Italia, vào thế kỷ VII tại Anh, Tây-ban-nha, Pháp. Phải chờ đến thế kỷ X thì mới phổ cập khắp Âu châu. Luôn tiện cũng nên biết là vì muốn gắn liền biến cố Chúa giáng sinh với thời gian, cho nên vào thời Trung cổ có vài nơi bắt đầu năm mới vào ngày 25 tháng chạp hay là 25 tháng 3. Từ thế kỷ XVI trở đi, tục lệ khởi sự đầu năm vào ngày 1/1 mới thành phổ quát.

Nguồn: daminh.net

Chủ Nhật, ngày 01 tháng 2 năm 2015

CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAE, RAPHAEL VÀ GRABRIEL



Lm. Giuse Đinh Tất Quý


Theo Sách Thánh thì Thiên Chúa đã dựng nên rất đông các tạo vật thiêng liêng vô hình và các thánh tiến sĩ thì nói có lẽ các thần này được dựng nên trong ngày thứ nhất khi bắt đầu công việc tạo dựng.

Thiên Chúa dựng nên các thiên thần để chầu chực hầu hạ Đức Chúa Trời, giúp đỡ loài người và gìn giữ vũ trụ.

Theo như các lần các ngài xuất hiện, hiện ra, ta thấy các ngài là những vị thiêng liêng, tốt lành, quyền phép, mạnh mẽ và mau lẹ. Các ngài cũng đã từng trải qua cuộc thử thách. Trong cuộc thử thách này có một số đông đã tỏ ra không chịu thần phục Thiên Chúa. Đứng đầu là Luxiphe nên đã bị Thiên Chúa loại bỏ.


MICAE

Theo sách Khải huyền của thánh Gioan thì khi ấy trên trời có một cuộc đại chiến. Một bên do Đức Micae lãnh đạo, bên kia là do Luciphe. Micae là thiên thần dũng mãnh. Với khẩu hiệu: "AI BẰNG THIÊN CHÚA", ngài đã anh dũng đẩy lui bè lũ Luciphe. Khẩu hiệu này đã trở thành tên của ngài (MICAE).

Hôm nay Giáo hội mừng kính thánh Micae, vị thủ lãnh các thiên thần lành trên trời và còn là bổn mạng của Giáo hội dưới thế. Chính Ngài đã nhiều lần hiện xuống trần gian với nhiều nhiệm vụ khác nhau để thực hiện sứ mạng cao cả của Ngài.

Chúng ta hãy bắt chước Ngài: luôn trung thành với Chúa. Mỗi khi chúng ta bị thế gian xác thịt cám dỗ muốn xa lìa Chúa, chúng ta hãy lập lại lời của Ngài: Ai bằng Thiên Chúa? Vâng! Chẳng ai bằng Thiên Chúa cả. Tiền bạc, vui sướng xác thịt, chức quyền không có gì sánh được với Thiên Chúa cả.

Không có một ai, một vật nào được phép đứng ngang hàng với Thiên Chúa của chúng ta. Chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng tốt lành, thánh thiện, mạnh mẽ phép tắc vô cùng. Người nhân từ vô biên, hiểu biết mọi sự, làm được mọi sự. Ngài là cội rễ mọi sự, là cùng đích của mọi loài. Không ai bằng Thiên Chúa.

RAPHAEL

Raphael xuất hiện ở trong Cựu Ước. Cựu Ước nói về Raphael như thế này:

"Ông Tobia người Do thái thuộc chi họ Neptali bị bắt làm tôi mọi bên nước Assyria  vì dân Do thái bị bại trận. Thời gian ở đất khách quê người Tobia luôn giữ lòng trung thành làm tôi Chúa. Ông bị tai nạn làm cho đôi mắt bị mù hoàn toàn. Gia đình ông túng đói quá không có cách nào xoay trở. Lúc đó ông nhớ đến món tiền trước kia ông đã cho nhà Gabelo mượn. Ông sai người con của ông cũng có tên là Tobia - Để khỏi lầm lẫn sau này người ta gọi là Tobia-con đến nhà Gabelo để xin lại món tiền đã cho vay. Tobia-con sẵn sàng vâng lời nhưng Tobia-con không biết đường đi. Tổng lãnh Grabriel đã hiện ra dưới hình dạng một người thanh niên để đẫn đường. Dọc đàng Raphael cứu Tobia-con khỏi bị cá nuốt. Tới nơi Grabriel còn giúp cho Tobia-con cưới được vợ là Sara và đồng thời còn đòi nợ giùm Tobia.

Công việc xong, Tobia-con cùng với vợ trở về nhà. Raphael bảo cho Tobia-con lấy mật cá mà xức vào mắt cho Tobia cha. Tobia cha được khỏi mù. mắt được sáng trở lại, cha con Tobia hết sức vui mừng. Đứng trước những ơn mà cả nhà vừa mới được: đòi được nợ, cưới được vợ, lại khỏi bị mù cha con ông Tobia muốn lấy phân nửa số tiền đòi được để gọi là đền ơn đáp nghĩa đối với người thanh niên đã tận tình giup đỡ gia đình mình. Khi ấy "người thanh niên" tốt lành đó mới tỏ ra cho cha con Tobia biết mình là thiên thần của Thiên Chúa đã được sai đến để giúp đỡ gia đình ông. Nói xong điều đó thiên thần liền biến đi.

Câu truyện của cha con Tobia cho chúng ta thấy Thiên Chúa hằng yêu thương chăm sóc những kẻ kính sợ Người. Raphael có nghĩa là "THẦY THUỐC CỦA THIÊN CHÚA"

GRABRIEL

Tên Grabriel có nghĩa là "SỨC MẠNH CỦA THIÊN CHÚA".

Chính đức Grabriel đã hiện ra với tiên tri Đaniel để cho Daniel biết Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra.

Chính đức Grabriel đã hiện ra với Giacaria báo tin cho ông biết ông sẽ sinh được một người con trai và đặt tên là Gioan.

Luca ghi lại quang cảnh cảm động này như sau: "Khi ấy ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong đền thờ của Đức Chúa. Sứ thần của Chúa hiện ra với ông... thấy vậy ông bối rối. Sự sợ hãi ập xuống trên ông. Những sứ thần bảo ông: "Này ông Giacaria, đừng sợ vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin. Bà Elizabeth vợ của ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai và ông phải đặt tên cho con là Gioan"

Ông thưa lại: "Dựa vào đâu mà tôi biết được điêu ấy? Vì tôi đã già và bà nhà tôi cũng đã lớn tuổi.?

Sứ thần đáp lại:" Tôi là Grabriel, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa. Tôi được sai đến với ông và loan báo Tin vui đó cho ông. Và này đây ông sẽ bị câm không nói được cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không chịu tin lời tôi là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi. (Lc 1,1-20) v.v... Và sau đó mọi việc xẩy ra như thế nào thì chúng ta đều đã được biết.

Rồi cũng theo Tin Mừng của Luca, sau sáu tháng, sứ thần Grabriel còn được Thiên Chúa gửi đến trần gian với một sứ mạng còn cao trọng hơn nhiều: Đó là sứ mạng truyền tin cho Đức Maria. Nếu Giacaria đã ngỡ ngàng thì Đức Mẹ còn  ngỡ ngàng hơn. Việc của Giacaria với bà Elizabeth chỉ là việc giữa con người với con người. Còn việc của Đức Maria là việc của Thiên Chúa: "Thánh thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền năng đấng tối cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế  người con do bà sinh ra sẽ là thánh và được gọi là con Thiên Chúa"(Lc 1,35)

Sau tiếng Xin vâng của Đức Mẹ cả vũ trụ đều phải nhảy mừng. Thi sĩ Hàn mặc Tử khi nghĩ đến biến cố này thôi cững đã phải run rảy mà thốt lên như thế này:

"Hỡi sứ thần Thiên Chúa Grabriel.
Khi người xuống truyền tin cho thánh nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú
Người có nghe náo động cả muôn loài?"

Chúng ta hãy cám ơn Chúa vì Chúa đã thực hiện những việc lạ lùng trước mắt chúng ta.

Thứ Năm, ngày 29 tháng 1 năm 2015

HÔN NHÂN KHÁC ĐẠO


Hôn nhân khác đạo gọi là “hôn nhân liên tôn”. Cái gì khác nhau cũng có thể gây phiền toái, nhất là cái khác đó liên quan vấn đề tôn giáo.

Hôn nhân khác đạo có thể là một thách đố, luôn cần nhiều tình yêu và khéo léo giao tiếp. Tuy nhiên, hôn nhân khác đạo cũng có thể là đại phúc giúp vợ chồng lớn mạnh trong niềm tin của nhau.

Đây là các gợi ý dành cho những người Công giáo kết hôn với người khác tôn giáo:


1/ ĐỪNG “HOÁN CẢI” NHAU

Bạn có thể chia sẻ sự nhiệt thành đối với niềm tin của mình và thật lòng trả lời các câu hỏi, nhưng đừng thúc ép người bạn đời phải gia nhập Công giáo. Giáo Hội khuyên: “…Các cặp vợ chồng khác đạo có thể sống trong hoàn cảnh đặc biệt theo ánh sáng của Đức Tin, vượt qua mọi sự căng thẳng giữa trách nhiệm đối với nhau và cộng đoàn, khuyến khích phát triển các điểm chung về niềm tin và tôn trọng các điểm khác nhau” (GLCG số 1636).

2/ CẦU NGUYỆN CÙNG NHAU

Hằng ngày nên dành thời gian cầu nguyện với nhau. Mới đầu có thể khó, nhưng hãy kiên trì để có thể đạt được cách cầu nguyện chung và có lợi cho cả hai về tâm linh. Một cách hay là cùng đọc Kinh Thánh hoặc tìm hiểu về Kinh Thánh.

3/ DUY TRÌ ĐỨC TIN

Người Công giáo có thể dễ xa rời Đức Tin vì cảm thấy khó hòa hợp trong hôn nhân khác đạo. Vấn đề quan trọng là phải biết tôn trong niềm tin của người bạn đời, nhưng đừng thỏa hiệp. Nếu không thể tham dự Thánh Lễ hằng ngày thì hãy cố gắng tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật, hãy đề nghị người bạn đời cùng đi. Hãy xưng tội vào những dịp lễ, tết, và các dịp đặc biệt. Bí tích Hòa Giải tạo cơ hội tốt để thảo luận về mọi điều khó khăn của cuộc sống hôn nhân khác đạo. Bạn có thể đề nghị người bạn đời cùng nhau gặp linh mục và thảo luận về bất kỳ vấn đề gì.

4/ GIÁO DỤC CON CÁI

Theo Giáo Luật, người không Công giáo phải đồng ý cho con cái gia nhập Công giáo và giáo dục chúng theo cách của Công giáo. Hãy bảo đảm cho chúng nền tảng Đức Tin vững chắc và được lãnh nhận các bí tích. Điều này rất “nhạy cảm” đới với người bạn đời khác đạo. Hãy dạy con cái tôn trọng niềm tin của cha hoặc mẹ của chúng, và hãy khuyến khích chúng đặt ra các câu hỏi.

5/ CHIA SẺ ĐỨC TIN

Hãy lưu ý các điểm chung về tâm linh và hỗ trợ nhau trên hành trình tâm linh, nhưng hãy tôn trọng các điểm khác nhau. Tránh chỉ trích hoặc chê bai niềm tin của nhau. Nếu không thể trả lời câu hỏi về Đức Tin, hãy tìm câu trả lời ở sách báo hoặc nhờ người có uy tín. Hãy tìm hiểu Công giáo và chia sẻ với người bạn đời. Hãy cầu xin Chúa giúp hiểu nhau và tôn trọng nhau.

6/ VĨ NGÔN

Bạn phải hy sinh và hành động khéo léo trong hôn nhân khác đạo, cố gắng để có lợi ích cho gia đình và xã hội. Thánh GH Gioan Phaolô II nói: “Hôn nhân giữa người Công giáo và người khác đạo có bản chất riêng, nhưng có nhiều yếu tố có thể tốt và phát triển, cả về giá trị thực chất và về sự đóng góp mà họ có thể tạo sự đại kết. Điều này rất thật khi hai người trung thành với nhiệm vụ tôn giáo của mình. Phép Rửa và động lực của ân sủng cung cấp cho họ nền tảng và sự thúc đẩy để diễn tả sự kết hợp trong lĩnh vực luân lý và tâm linh” (Tông huấn Familiaris Consortio).


Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ Beliefnet.com

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2015

NÚI ĐÁ VÀ THÀNH LŨY BẢO VỆ ĐỜI CON CHÍNH LÀ THIÊN CHÚA!



... Chị Bertha là nữ tu dòng Chúa GIÊSU Hài Đồng hiện phục vụ dân nghèo ở Selayang bên nước Mã-Lai. Cuộc gặp gỡ với phong trào Đức Tin và Ánh Sáng chuyên chăm sóc người khuyết tật đã khơi động tình liên đới mới giữa dân nghèo và biến đổi Chị. Xin nhường lời cho Chị Bertha.


 Tôi sống nơi một trại phong cùi ở Selayang. Tại khu vực này người ta xây những căn nhà rẻ tiền thay thế cho khu ổ chuột. Cùng với các nhân viên thiện nguyện chúng tôi quản nhiệm một vườn trẻ, một trường dành cho trẻ em kém may mắn và một trung tâm huấn nghệ để dạy may, dạy làm bánh và hớt tóc. Tôi chưa bao giờ nghe nói đến phong trào Đức Tin và Ánh Sáng cho đến một ngày tôi nhận được chương trình của một dự án mang tựa đề ”Nối Vòng Tay, Chạm Đến Những Mảnh Đời”. Một trong 4 tổ chức tham gia dự án này là phong trào Đức Tin và Ánh Sáng. Mục đích của dự án ”Nối Vòng Tay, Chạm Đến Những Mảnh Đời” là liên kết chúng tôi lại với nhau để cùng phục vụ một thân thể duy nhất, bằng cách chia sẻ các nguồn lợi, đào sâu mạng lưới liên đới và hợp tác trong việc tìm kiếm các ngân quỹ để hỗ trợ cho thừa tác vụ của chúng tôi. Chính nhờ dự án thành hình mà chúng tôi mở một cuộc lạc quyên để trợ giúp tài chánh cho chuyến hành hương của phong trào Đức Tin và Ánh Sáng diễn ra tại Plentong vào tháng 2 năm 2012.

 Khi dự án ”Nối Vòng Tay, Chạm Đến Những Mảnh Đời” thật sự bắt đầu, tôi nói với các phụ nữ nghèo làm chủ một tiệm bánh mì nhỏ được thành lập tại Prima Selayang, khu vực nơi tôi đang sống, về ai là người đã giúp đỡ chúng tôi. Các phụ nữ nghèo tức khắc đáp lời:
- Đúng rồi! Chúng ta phải giúp phong trào Đức Tin và Ánh Sáng và đừng nghĩ đến chuyện tìm kiếm những lợi lộc cho riêng chúng ta!

 Câu nói khiến tôi hết sức xúc động. Các phụ nữ nghèo luôn luôn mau mắn giúp đỡ những người gặp khó khăn và quên hẳn nhu cầu riêng của mình.

 Thời gian sau đó tôi có dịp gặp cô Luisa Lowe người điều hành các cộng đoàn Đức Tin và Ánh Sáng ở Mã-Lai. Qua cô Luisa THIÊN CHÚA bảo tôi đến và xem. Nhờ thế mà tôi có dịp tham gia chuyến hành hương của phong trào. Điều làm tôi ngỡ ngàng thán phục nhất là vẻ đẹp của các trẻ em và người lớn dành cho một người tàn tật tâm trí: niềm vui, tình yêu thương và tiếng cười họ trao cho nhau. Sinh hoạt của các người tháp tùng được đâm rễ sâu nơi cuộc sống đức tin của họ.

Sau lần hành hương đó tôi thật sự bị xao xuyến. Nếu tôi nhìn thấy sự hiện diện của các trẻ em tàn tật nơi cộng đoàn nghèo nàn ở Prima Selayang, hẳn tôi không lưu tâm cũng chả thèm ngó ngàng đến chúng. Giờ đây tôi hiểu rõ hơn rằng các trẻ em tàn tật phản ảnh các phẩm chất của THIÊN CHÚA. Nếu biết chú ý đến nét đặc thù của các trẻ em tàn tật thì tôi có thể chiêm ngắm công trình sáng tạo của THIÊN CHÚA qua các em!

 Tôi liền xin cô Luisa mỗi tháng một lần tổ chức buổi gặp gỡ của cộng đoàn Đức Tin và Ánh Sáng nơi căn hộ của tôi. Ban đầu các phụ nữ bản xứ nghèo do dự không muốn đến. Đối với họ: các trẻ em tàn tật là một chúc dữ lẻn vào gia đình, hậu quả của một hành động xấu đã làm trong quá khứ. Tôi liền nghĩ rằng: ”Phương thế duy nhất để tháo bỏ cái niềm tin sai lầm này là phải mang đến cho họ Tình Yêu THIÊN CHÚA”.

Và đúng như tôi nghĩ. Sau khi nghe chứng từ của Reena, một thiếu nữ Công Giáo bản xứ bị mù, các bà mẹ nghèo đã thay đổi tâm tư cùng thái độ. Các bà chú ý nhiều hơn đến các đứa con bị tàn tật, chấp nhận chúng cũng quý giá, hiểu rằng chúng phải được quan tâm chăm sóc với nhiều tình thương hơn các đứa con bình thường. Các đứa trẻ cũng vội vã đến tham dự các buổi gặp gỡ hàng tháng. Thật cảm động biết bao khi chứng kiến niềm vui và những tiếng cười dòn dã được chia sẻ mỗi khi cộng đoàn Đức Tin và Ánh Sáng quy tụ nơi căn hộ tôi. Tôi xác tín sâu xa rằng ngôn ngữ tình yêu được mọi người hiểu. Nó siêu việt hóa nhân chủng, tôn giáo, văn hóa, tình trạng kinh tế và xã hội.

 Cộng đoàn Đức Tin và Ánh Sáng đã biến đổi tôi. Tôi nghĩ rằng các ân huệ của THIÊN CHÚA được trưng bày trên các kệ, cái này trên cái kia và nếu chúng ta càng lớn lên trong đời sống đức tin thì các ân huệ sẽ được đặt ngang tầm tay của chúng ta.

 ... ”Xin Ngài nên như núi đá cho con trú ẩn, như thành trì để cứu độ con. Núi đá và thành lũy bảo vệ con, chính là Chúa. Vì danh dự Ngài, xin dẫn đường chỉ lối cho con .. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con. Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín .. Lạy Chúa, cao cả thay tấm lòng nhân hậu, Chúa dành cho kẻ kính sợ Ngài, và thi thố trước mặt phàm nhân, cho ai tìm đến Ngài nương náu. Bên thánh nhan, Ngài giấu họ kỹ càng khỏi người đời mưu hại. Ngài che chở họ trong lều thánh, xa tầm lưỡi thị phi. Chúc tụng Chúa đã tỏ tình thương kỳ diệu đối với con trong thành trì vững chắc .. Hết mọi người hiếu trung với Chúa, hãy yêu mến Chúa đi! Chúa giữ gìn những ai thành tín, nhưng thẳng tay trừng trị người ăn ở kiêu căng. Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Thánh Vịnh 31(30),3-4/6/20-22/24-25).

 (”OMBRES & lumière”, Revue Chrétienne Des Personnes Malades Et Handicapées, De Leurs Familles Et Amis, No 191, Janvier-Février 2013, trang 15-16)

 Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

CHIA SẺ: BÀI MỚI

GIÁO HỘI: BÀI MỚI

MẸ MARIA - THÁNH GIUSE - CÁC THÁNH: BÀI MỚI

VĂN HÓA: BÀI MỚI

DI CẢO LM. J.H

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Affiliate Network Reviews