Thứ Bảy, ngày 11 tháng 4 năm 2015

PHÚC CHO KHÔNG THẤY MÀ TIN



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long


Phúc cho không thy mà tin

Hằng năm vào ngày Chúa nhật sau lễ mừng Chúa phc sinh, đoạn phúc âm Thánh Gioan thut li cảnh Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ và cuộc đối thoi giữa Chúa Giêsu phc sinh vi Thánh Toma Tông đồ là trung tâm Tin mừng lời Chúa, được đọc lên suy niệm.

Đâu là ý nghĩa đạo đức thần học ẩn chứa trong đọan Tin Mừng đó?

Ông Thánh Toma tông đồ Chúa Giêsu

Cả bốn phúc âm Chúa Giêsu đều nói đến tên Toma tông đồ của Chúa Giêsu. Nơi ba phúc âm theo Thánh Matheo, Maco và Luca tên Toma được kể sát bên tên Thánh Matheo (Mt 10,3, Mc 3,18 và Lc 6,15). Nhưng trong sách Công vụ Tông đồ, tên Toma được nói đến bên cạnh Thánh Philippus (CV 1,13).

Tên Toma theo nguyên ngữ gốc Do Thái „ ta am“ có nghĩa là  song đôi hay sinh đôi“ . Nơi phúc âm theo Thánh Gioan tên Toma được viết thut li cùng với tên phthứ hai „ Didymo“ (Ga 11,16, 20,24, 21,2,) theo tiếng Hylạp có nghĩa là sinh đôi“. Tại sao Ông Toma có tên phụ này, không có gì chứng minh rõ.

Nhưng có suy nghĩ cho rằng Thánh Toma tông đồ theo như Phúc âm Thánh Gioan thut lại, có hai lần tỏ ra uy tín tư cách riêng của ông quyết lit tin theo Chúa Giêsu.

Lần thứ nhất khi được Chúa Giêsu nói cho hay Ngài sẽ về Betania gần Gierusalem để thăm và cho Laxaro sống lại sau khi đã chết, các Tông đồ tỏ ra nghi ngại „ Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thy còn lại đến đó sao?“. Ông Toma trả lời ngay“ „ Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng sẽ đi để cùng chết với Thầy.“ (Ga 11, 8-16.)

Thái độ quyết liệt này của Ông Toma nói lên lòng trung thành với Chúa Giêsu, cùng chia xẻ sự ththách đau khổ với Chúa Giêsu thầy mình trong hoàn cảnh nguy hiểm nhất, cho dù thế nào cũng không bỏ Thầy. Đây là bài học cho lòng tin lòng trung thành của người tin theo Chúa, luôn gắn bó trong tình yêu thương của Chúa. Trái tim Chúa, lòng thương xót Chúa là ngôi nhà i cư ngụ của con người.

Lần thhai trong bữa Tiệc ly. Câu nói , câu hỏi của Toma lần này khác với lần trước, nói lên sự hiểu biết thấp ít , khi Chúa Giêsu nói về sự chết hy sinh của Ngài để dọn chỗ cho các tông đồ, Toma hỏi ngay chen vào:“ Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?“ (Ga 14, 1-4).

Qua câu thắc mắc ít hiểu biết đó, Chúa Giêsu đã nói lên một chân lý thời danh: „ Thy là đường, là sự thật và là sự sống“ (Ga 14, 6).

Chính thái độ bộc trực và u thắc mắc xem ra ngây ngô của Toma nói lên điều gì căn bản trong đời sống đức tin của con người cần được Chúa soi sáng, hướng dẫn giải thích cho hiểu biết. Vì tâm trí con người giới hạn.

Cung cách này ca Toma còn diễn tả lòng can đảm nói chuyện đàm thoại với Chúa Giêsu, Thầy mình. Đó cũng là một cách thc cu nguyện cho người tín hữu Chúa Kito chúng ta trong đời sống, nói chuyện với Chúa, trình bày  với người những lo âu khón khăn, sự hiểu biết non kém giới hạn của mình. Cung cách này nói lên sự tin tưởng tràn đầy cùng mong chờ ánh sáng cùng sức mạnh soi chiếu từ nơi Chúa cho đời sống chỗi dậy vươn lên.

Có lẽ vì hai thái độ lòng trung thành và lòng tin tưởng chân thành của Toma, mà Thánh Gioan tông đồ trong phúc âm đã cho thêm tên phụ „ Didymo“ cho Thánh Toma: Toma còn gọi là Didymo.

Ly Thy, ly Thiên Chúa ca con

Trong cung cách ngây thơ đặt câu hỏi của Toma nơi bữa tiệc ly lúc còn sống, Chúa Giêsu đã nói lên điều căn bản về chính mình cho con người: Thy là đường, là sự thật và là sự sống.

Trong hoài nghi về Chúa Giêsu đã chỗi dậy sống lại: Nếu tôi không nhìn thấy những vết tương nơi chân tay Người, và không đặt ngón tay vào cạnh sườn Người, tôi không tin(Ga 20,25), Chúa Giêsu phc sinh lúc hiện ra có cả Toma, Ngài đã đã nói với Ông: Đặt ngón tay vào đây , và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin(Ga 20, 27).

Ông Toma phản ứng liền và i ngay li tuyên tín rất chân thành, rất đẹp và rất thời danh: „Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con“ (Ga 20,28.)

Thánh Augustino đã có suy niện về câu nói này ca Thánh Toma:„ Thánh Toma đã nhìn thấy, đã đụng chm con người, nhưng Toma đã tin vào Thiên Chúa mà Ông không nhìn thy cũng không đụng chạm vào. Điều Ông đã nhìn thấy và đã đụng chạm, đã khiến ông thay đổi cùng tin vào điều Ông hồ nghi.

Chúa Giêsu nói ngay với Ông Toma:“ Vì anh đã thấy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin“ (Ga 20,29).

Thy mà xem chng thy

Lời tuyên tín của Thánh Toma“ Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con“ và câu trả lời của Chúa Giêsu về sự nhìn mà tin cũng tương tự như lời tuyên tín của Natanael lúc đến gặp Chúa Giêsu „ Thưa Thầy, chính Thy là con Thiên Chúa, chính Thy là vua Israel…..Chúa Giêsu nói với Natanael: Anh sẽ con được nhìn thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.“ (Ga 1, 49-50).

Trong cả hai trường hợp Chúa đã nói về sự nhìn của hai ông, và chinh phục được lòng của hai người từ hồ nghi đến tin tưởng.

Thánh Toma tiến sỹ Aquino thi Trung cổ đã dựa trên lời Chúa Giêsu nói với các Tông đồ: „ Phúc cho mắt nào được nhìn thấy điều anh em thấy“ (Lc 10,23), có suy luận về câu nói của Chúa Giêsu nói với Ông Toma: „ Phúc thay những người không thấy mà tin“ : Gặt hái thu lượm được nhiều nơi người tin mà không nhìn thấy, hơn là nơi người nhìn thấy mà tin.

Trong thư gửi Giáo đoàn Do Thái nói về ơn kêu gọi của của các Tổ phụ trong Kinh Thánh nhờ tin vào Thiên Chúa mà không có nhìn thấy
Thiên Chúa: „ Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. „ (Dt 11,1).

Đoạn phúc âm nói về lòng tin của Ông Thánh Toma được thut li trong bi cảnh „ Tám ngày sau, các môn đệ Chúa Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Toma ở đó với các ông.“

Với Thánh sử Gioan lần Chúa Giêsu phc sinh hiện ra lần này là lần thứ hai với các môn đệ có cả Toma và vào ngày Chúa nhật. Con số tám ngày phù hợp theo cách tính thi cổ xưa khởi đầu và tận cùng. Cũng có thể vào thời lúc Thánh Gioan viết phúc âm, ngày Chúa Nhật đã trở thành ngày kính nhớ Chúa Giêsu phc sinh sống lại nơi Cộng đoàn Giáo hội Chúa Giêsu Kito thời sơ khai rồi. Vào ngày này các tín hữu tụ họp mừng kình mầu nhiệm Chúa sống lại, Bí tích Thánh Thể tưởng niệm Chúa Giêsu.(Cv 20,7, Didache 14,1).

Chọn tám ngày sau khi Chúa Giêsu phc sinh, Thánh Gioan hướng tầm nhìn mục vụ tới Cộng đoàn Giáo hội Chúa Giêsu nhiều hơn. Vì họ vào ngày này tụ họp mừng kính Chúa Giêsu phc sinh nht là nhớ lại Chúa Giêsu hiện ra có cả Toma với câu tuyên tín căn bản cùng thâm sâu chân thành : Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.

Thánh Toma tông đồ xưa nay trong dân gian được gọi là Toma yếu kém lòng tin“. Có phải thật như thế không? Sự yếu kếm lòng tin ca Thánh tông đồ Toma có ảnh hưởng gì tới đời sống người tín hữu Chúa Kitô chúng ta không?

Chúng ta được phép nhìn và gọi ngài như thế, không sao cả. Nhưng không phải vì thế mà cung cách đời sống lòng tin Thánh Toma không giúp gợi, hay có thể diễn tả là không mang lại gương sáng, ý tưởng đà thúc đẩy cho đức tin chúng thêm can đảm những khi gặp yếu kém hồ nghi đâu. Trái lại là đàng khác.

Qua cung cách thái độ của Thánh Toma chúng ta cm thấy mình được an i trong những khi hồ nghi.

Qua Thánh Toma , chúng ta nhận ra mọi hồ nghi, mọi sự thiếu hiểu biết có thể dẫn đưa đến ánh sáng bằng cu nguyện, bằng đối thoi thắc mắc và lắng nghe.

Qua những lời của Chúa Giêsu tuy nói với Toma, cũng nhắc nhở nói với chúng ta về ý nghĩa của đức tin, cùng giúp ta thêm can đảm. cho dù gặp cảnh sống khó khăn luôn trung thành gắn bó với Chúa Giêsu.

Sau cùng khi Chúa Giesu phc sinh hiện ra với các Môn đệ ở bờ hồ Tiberia, Thánh Toma được nhắc đến liền sau Thánh Phero, vị Tông đồ trưởng của Chúa và của Giáo hội. Điều này nói lên một ý nghĩa lớn về niềm vui mừng cho Giáo hội thời sơ khai. Trong thời kỳ đó đã xuất hin phúc âm chúa Giêsu theo Thánh Toma, cùng sử liệu về Thánh Toma ri. Tuy không được công nhận là phúc âm trong Canon của Gíao hội, nhưng đó là tài liệu khảo cứu quan trng về Giáo hội Chúa Kito thời sơ khai..

ng có truyn thng xa xưa nói Thánh Toma  đã sang rao giảng phúc âm bên Syria và Iran, rồi sang tận miền nam Ấn Độ, mà ngày nay Giáo hội Công giáo Ấn Độ luôn sùng kính nhớ tới ngài cách đặc biệt, vị Thánh quan thy tổ phụ của Giáo hội Công giáo Ấn Độ.

Chúa nhật kính lòng thương xót Chúa 12.04. 2015

______________________________

Ly cm hng t:

- Benedickt XVI., Auf dem Fundament der Apostel, Katechesen zum Ursprung der Kirche,  Apưostel Thomas , 2007 Verlag Freidrich Pustet, Regensburg.

- Rudolf Schnackenburg, Das Johannesevangelium 13-21.,e Ditterteil, Sonderausgabe Freiburg i. Br. 1975, Kapitel 20, 24-29.

Thứ Bảy, ngày 04 tháng 4 năm 2015

CHỨNG TỪ CỦA CHỖI DẬY


Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long  

Thiên Thn canh mộ Chúa nói : „Ngài đã chỗi dậy từ cõi chết. Ngài không còn ở đây nữa.“ (Mc 16,6).

Hằng năm vào mùa mừng lễ Chúa sống lại, cây nến Chúa Giêsu phục sinh cao to lớn hơn mọi cây nến trong thánh đường được dựng thắp sáng trên cung thánh. Cây nến này là hình ảnh biểu tượng cho ánh sáng Chúa Giêsu Kito đã chỗi dậy sống lại.

Chỗi dậy sống lại là một biến cố không chỉ lạ lùng, mà nó vượt ra ngoài mọi biên giới của trí tưởng của trí khôn suy hiểu con người chúng ta. Như ánh sáng cây nến Chúa phục sinh lan toả ra, cũng thế sức sống mới từ Chúa Kitô phục sinh cũng lan tỏa ra như vậy.

Chúa Giêsu chỗi dậy sống lại không là một biến cố thuộc về qúa khứ. Nhưng vẫn còn tiếp tục kéo dài vào hiện tại, sát gần gũi với đời sống con người, và có thể cùng muốn điều gì xảy đến với con người chúng ta nữa.

Trong dòng lịch sử đời sống Giáo hội xưa nay có rất nhiều những khuôn mặt đã sống trải qua là nhân chứng cho chỗi dậy sống lại, mà Chúa Kitô phục sinh đã lan toả sức sống mới của Ngài sang đến cho họ.

1. Maria Magdalena

Vị Thánh nữ này có đời sống sôi nổi lên xuống rất hấp dẫn khác thường.

Phúc âm Thánh Luca thuật lại, Maria Magdalena được Chúa chữa lành giải thoát khỏi bảy qủi dữ (Lc 8,1-3).

Rồi từ đó có lẽ chị ta đã theo Chúa trở thành mên đệ trung tín của Chúa Giêsu cho ti giờ phút cuối cùng của Chúa trên trần gian. (Mc 15,41) 

Maria Magdalena là nhân chứng cùng với đức mẹ Maria theo dõi cuộc khổ nạn thương khó của Chúa Giêsu, đứng dưới chân thập gía Chúa tới khi Chúa chết, rồi cùng tham dự tích cực vào cuộc an táng Chúa Giêsu. (Mc 15,40…Mt 27,55…Lc 23,49.., Ga 19,25…),

Và sau cùng là người đầu tiên đã được nghe Thiên Thần báo tin Chúa Giêsu đã sống lại, rồi được gặp nhìn Chúa Giêsu Kito sống lại. (Mc 16,1, Mt 27,61).

Maria Magdalena là nhân chứng tận mắt nhìn vào ngôi mộ chôn Chúa Giêsu trống không còn xác Người nữa.Vì Người đã chỗi dậy sống lại. Ga 20,1-18, Mc 16,9-11.

Theo đức Giáo Hoàng Gregor cả ( 540 in Rom; 12. März 604, là Giáo hoàng 590-604) Maria Magdalena cũng là Maria đã khóc lóc ăn năn tội lỗi mình, và lấy tóc lau chân Chúa Giêsu như trong phúc âm thuật lại (Lc 7,36-50).

Đức giáo hoàng Gregor cả còn cho rằng Maria thành Betania (Lc 10,39), em của Martha và chị của Lazaro được Chúa Giêsu cho chỗi dậy sống lại khi đã chết, cùng là người đã xức dầu chân Chúa (Ga 12,1-11) cũng là Maria Magdalena.

Cũng còn có ý kiến nghĩ rằng người phụ nữ phạm tội ngoại tình bị bắt đưa đến trước mặt Chúa Giêsu ở sân đền thờ Giêrusalem, và theo luật pháp bị xử ném đá, đã được Chúa Giêsu cứu khỏi bị xử ném đá (Ga 7,53-8,11.), cũng được cho là chính Maria Magdalena.

Dù đời sống Magadalena thế nào đi chăng nữa, Chúa Giêsu đã cho vị Thánh nữ này chỗi dậy, và có được kinh nghiệm cùng cảm nghiệm bản thân thế nào là chỗi dậy sống lại.

2. Saulus

Trên đường đi Damaskus Chúa Kitô sống lại đã hiện ra gặp Saulus. Ngài để cho ông ngã ngựa, và cho ông biết Ngài chính là Chúa Kitô đã chỗi dậy, mà ông đang đi truy lùng những tín hữu của Ngài.

Từ đó Saulus chỗi dậy được cải tên trở thành Phaolo nhận ra Chúa Kitô đã vượt qua sự chết và đã chỗi dậy sống lại. Ông đã xuay hướng thay đổi đời sống, và trở thành nhà truyền giáo can đảm nhiệt thành nhất đi rao giảng làm nhân chứng cho tin mừng Chúa Giêsu Kito đã chỗi dậy sống lại.

Kinh Thánh thuật lại về Ông: 22 "Giờ đây, bị Thần Khí trói buộc, tôi về Giê-ru-sa-lem, mà không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi ở đó,23 trừ ra điều này, là tôi đến thành nào, thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi.24 Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giê-su, là long trọng làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa.“ (Cv 20, 22-24).

Thánh Phaolo đã được Chúa Giêsu Kitô, đấng đã chỗi dậy, làm cho ông cũng được chỗi dậy, sống làm chứng cho sự chỗi dậy của Chúa Kitô.


3. Phanxico thành Assi

Lúc đạt tới 23 tuổi Phanxico đã quay lại lưng lại không gia nhập đội ngũ phục vụ vị lãnh chúa đi chiến đấu trong chiến tranh nữa. Vì Phanxico nhận ra rằng chỉ có một vị Chúa thật, Người sống vượt trên mọi thiên nhiên. Chúa đó là Chúa Kitô đã chỗi dậy sống lại.

Một hôm đang khi múa nhảy ca hát ngoài đường phố, bỗng nhiên Phanxico đứng khựng lại. Ông cảm thấy cô đơn. Rồi một sức mạnh bừng dậy trong người ông. Sức mạnh đó là ơn gọi làm thay đổi đời ông. Theo ơn gọi đó Phanxico sống là nhân chứng cho Chúa Kito qua cung cách sống nghèo khó khiêm nhượng đến tận cùng.

Chúa Giêsu Kitô đã chổi dậy và đã cho Phanxico cũng chỗi dậy trở thành một vị Thánh thời danh trong Giáo hội.

4. Anphonsô thành Ligouri

Trong đời sống vị Thánh này, Chúa Giêsu Kitô chỗi dậy đã cho phong trào đạo đức của ông chỗi dậy cách lạ lùng.

linh mục, Anphongsô lúc đầu đã tụ tập một ít người đồng chí hướng để cầu nguyn chung và trao đổi về đời sống cảm nghiệm đức tin. Dần dần vòng thân hữu đạo đức này lan rộng thành những những buổi hội họp ban chiều. Năm 1798 có 85 buổi với trên dưới 1.000 tham dự viên. Năm 1834 lên tới 100 buổi với 300 tham dự viên ở mỗi buổi họp. 50 năm sau  con số tham dự viên lên tới 30.000 người.

Một ý tưởng và những cảm nghiệm về đức tin đã đưa dẫn đến một nếp sống mới, mà Chúa Giêsu Kito chỗi dậy đã làm cho tâm hồn con người đông đảo tham gia tích cực phong trào đạo đức do Thánh Anphonsô đề nghị khơi lên.

4. MThánh Terexa thành Calcutta.

Mẹ Thánh Teresa thành Calcutta đã có thể kể ra rất nhiều kinh nghiệm là nhân chứng về Chúa Giêsu Kitô đã chỗi dậy sống lại, mà Thánh nữ luôn hằng trong đời sống mình có liên quan chặt chẽ với.

Thân phận của những người nghèo khổ cùng đinh đã đánh động làm cho ytâm hồn Mẹ Teresa ăn ngủ không yên. Chính điều này đã trở thành ơn Gọi thứ hai cho mẹ. Mẹ viết lại: năm 1946 tôi đi đến Darjeeling để tham dự tuần cấm phòng. Trên xe lửa tôi nghe thấy tiếng gọi nói trong tâm hồn bỏ mọi sự và theo Chúa Giêsu đến vùng người dân đang sống nghèo khổ cùng đinh, để phục vụ Chúa giữa những người nghèo khổ bất hạnh nhất.  Những gì xảy ra trong những năm tháng tiếp theo sau đó, sẽ trở thành không, nếu không có Đấng đã chổi dậy sống lại. 

Tiêng gọi của Đấng đã chỗi dậy làm cho mẹ Teresa chỗi dậy đi đến với người nghèo khổ bất hạnh trên trần gian.

5. Các vtruyn giáo

Các nhà truyền giáo ngày xưa cách ba hay bốn trăm năm từ Âu châu đã bỏ lại quê hương sau lưng bôn ba sang tận Á Châu, Phi Châu, Mỹ châu, Úc châu….

Họ đi đến những đất nước ở vùng chân trời xa lạ không phải để lập nghiệp, cũng không phải để đi tỵ nạn. Nhưng để làm công vic  truyền bá tin mừng tinh thần đạo giáo cho Chúa Giêsu Kito, Đấng đã chỗi dậy sống lại.

Xưa nay chúng ta gọi họ là những vị Thừa sai. Nếu nghĩ theo kiểu chơi chữ, họ không phải là người „ thừa“ , người làm việc „sai“. Nhưng họ là những người được sai đi.

Người được sai đi phải chỗi dậy mới đi được. Chỉ có sức mạnh của Đấng đã chỗi dậy là Chúa Giêsu Kito mới thúc đẩy làm cho họ chỗi dậy bỏ quê hương xứ sở lên đường ra đi. Họ chỗi đậy ra đi chỉ có một nhiệm vụ sống làm chứng cho Chúa Giêsu Kito đã chỗi dậy sống lại.

6. Đc Hng Y Phanxico Xavie Nguyn văn Thun

Trong những tù biệt giam bên Việt Nam,  Đức tổng giám mục Phanxico xavie Nguyễn văn Thuận
đã có được kinh nghiệm cùng cảm nghim của mình về làm chứng cho Chúa Kitô đã chỗi dậy sống lại thế nào với người Cộng sản“
Trong cuc đi tôi, có nhng lúc chính hoàn cnh thc tế đã giúp soi sáng tôi khi nghĩ ti nhim vln lao làm chng tá cho Chúa Kitô.
 Trong thi gian bbit giam, tôi đưc giao cho 5 ngưi canh gác. H thay phiên nhau luôn luôn có hai ngưi vi tôi. Các cp chhuy nói vi h: Cmi hai tun chúng tôi sthay thế các anh bng mt nhóm khác, đcác anh không b: tiêm nhim bi ông Giám mc nguy him này.
 Sau mt thi gian, chính hli đi quyết đnh:Chúng tôi skhông thay đi các anh na, bi nếu không thì ông giám mc đó stiêm nhim tt ccông an ca chúng ta.
 Ban đu công an canh gác không nói chuyn vi tôi. Hchtrli có hay là không.
 Tht là bun. tôi mun ttế và nhã nhn vi hmà không đưc. Htránh nói chuyn vi tôi.
 Đêm n, mt tư tưng đến vi tôi: Phanxicô, con còn giu lm, con còn tình yêu Chúa Kitô trong tim, hãy yêu thương hnhư Chúa Giêsu đã yêu thương con.
  Ngày hôm sau tôi bt đu yêu Chúa Giêsu nơi hhơn na, bng cách cưi nói trao đi vi hvài câu thân tình. Tôi bt đu kcho hnghe vnhng chuyến đi ngoi quc ca tôi, cho hbiết các dân tc ti M, ti  Nht Bn, ti Phi lut Tân...sng như thế nào, và nói vi hvkinh tế, vstdo, vkthut.
 Tôi đã kích thích tính tò mò ca hvà đưa hti chđt rt nhiu câu hi. Dn dn chúng tôi trthành bn vi nhau. Hmun hc tiếng ngoi quc: tiếng Pháp, tiếng Anh...và như thế nhng ngưi canh tù trthành hc trò ca tôi.Hng Y Phanxico Xavie Nguyn văn Thun, Chng nhân hy vng, Các bài ging tĩnh tâm cho Đc Thánh Cha và Giáo triu Roma, Vatican mùa Chay 12.-18. Tháng Ba 2000. Dân Chúa xut bn 2001 trang 100 )

Trong đêm ti cùng qun cô đơn, Chúa Kitô đấng chi dy sng li đã đánh thc đức Cha Thun chi dy đem tin mng tình yêu thương cho kghét làm hi mình.

7. Nhng bc cha m

Có lẽ những bậc cha mẹ chúng ta là những người có kinh nghiệm cảm nghiệm nhiều, cùng sâu sắc về đời sống chỗi dậy như thế nào.

Thuở ban đầu lúc mới thành hôn lập gia đình với nhau có lẽ hai vợ chồng mới không cảm thấy sự chỗi dậy bao nhiêu cùng như thế nào. Vì đường đời sống chưa gặp thử thách. Nhưng dần theo dòng thời gian, nhất là khi có con, họ càng nhận ra điều này rõ ràng hơn, và coi chỗi dậy là nhu cầu cần thiết của đời sống.

Nhiều vợ chồng trẻ kể lại rất sung sướng hạnh phúc khi họ có người con chào đời trong gia đình.

Nhưng nhất là người cha càng dần cảm thấy bị „ stress“ nhiều. Vì phải cùng với vợ dành nhiều thời giờ có khi cả thức đêm săn sóc đứa con, những lúc nó đau ốm khóc đêm, rồi phải hy sinh nhiều cho gia đình…

Càng có thêm con trong gia đình, vui mừng đấy, nhưng vợ chồng càng có thêm „ stress“. Họ than thở nhiều khi mệt qúa không chỉ thân xác mỏi mệt, nhưng cả tinh thần cũng chùng xuống nữa. Và chỉ muốn buông xuôi. Những khi như thế hai vợ chồng an ủi nhau, khuyến khích nhau chỗi dậy tiếp tục. Vì đó là bổn phận, là đời sống của chính mình, là tương lai của con cái mình.

Rồi khi con lớn khôn, việc dậy dỗ giáo dục uốn nắn những đứa con sống nên người về học hành, nghề nghiệp, tinh thần đạo gíao, là vần đề lớn cho cha mẹ. Vấn đề lo nghĩ mà rất nhiều khi phân vân không sao tìm ra giải đáp đã làm tinh thần họ uể oải chùng xuống, như người nằm ngồi sát tận nền nhà mặt đất. Những khi như thế mà chỗi dậy được khác nào như sống lại.

Cha mẹ có đức tin Công giáo vào Chúa Giêsu Kitô đã chỗi dậy sống lại là gương mẫu thúc đẩy cho tinh thần của họ, những khi họ gặp hoàn cảnh khó khăn đứng khựng lại.

Chúa Giêsu Kitô chỗi dậy sống lại mang ánh sáng niềm vui phấn khởi cho con người. Theo dấu chân đó của Chúa Giêsu Kitô, cha mẹ chỗi dậy làm việc bổn phận mang niềm vui hạnh phúc cho chính mình và cho con cái mình trong đời sống.

*******************

Chỗi dậy là nhu cầu cần thiết cho đời sống. Chúa Giêsu Kito là người
thứ nhất đã chỗi dậy sống lại mang sự sống ơn cứu độ cho con người khỏi hình phạt tội nguyên tổ Adong Evà.

Sống theo dấu vết của Chúa Giesu chỗi dậy và loan truyền làm chứng cho Chúa Giêsu chỗi dậy sống lại là tiếp nối công việc mang ánh sáng tin mừng sự sống của Chúa giữa lòng đời sống con người trên trần gian.

Mừng lễ Chúa Giesu Kito phục sinh 2015

Thứ Năm, ngày 02 tháng 4 năm 2015

CHÚA GIÊ SU SỐNG GẦN GŨI


Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long  

Bạn có thích khoe đôi chân của bạn ra bên ngoài cho người khác xem không?

Có thể có nơi các người phụ nữ, nhất là vào mùa những ngày nắng đẹp, họ săn sóc đôi giầy, đôi xăng đan cho đẹp, hay chân đi mang dầy, xăng đan hình dáng kiểu khác thường hay hay vui mắt. Chứ thông thường đôi chân chúng ta thường bọc ẩn kín trong dớ tất.

Trái lại ở nhà người ta thường đi dép trong nhà, có người chỉ đi dớ tất, hay còn đi chân không dầy, không dớ cho thoải mái . Vì ở trong nhà ấm áp, và không có ai ngoài người thân gia đình thôi. Điều này nói lên sự thân tình, sự gần gũi nhau giữa người thân cùng chung sống với nhau.

Đôi chân là phần thân thể con người, Đấng tạo Hóa đã tạo dựng như thế nơi mỗi con người. Đôi chân cũng như các chi thể khác của thân thể con người, là phần riêng tư của mỗi người. Vì thế không phải ai chúng ta cũng lộ ra cho xem. Nếu người khác đụng chạm vào chân, với nhiều người gây ra cảm giác rợn rùng khó chịu. Vì đụng chạm vào chân là sát gần với da thịt, thần kinh sát gần với con người của ta.

12 Môn đệ học trò chính Chúa Giêsu khi ra rao giảng nước Thiên Chúa đã tuyển chọn kêu gọi là những người thân thích sát gần sống chung với. Nên Ngài muốn tỏ ra cho họ cử chỉ Ngài sống sát gần với họ. Cử chỉ sát gần đó là ngài rửa chân cho họ.

Thời Chúa Giêsu, theo phong tục văn hóa lúc đó quan niệm về đôi chân không mấy nghiêm ngặt về tính cách riêng tư của mỗi người cho lắm, như ngày hôm nay.

Vào thời Chúa Giêsu, theo phong tục văn hóa những người phục vụ, những người đầy tớ giúp việc nhà, thường làm công việc lau phủi bụi rửa chân cho khách đến nhà. Vì vào thời đó người ta nếu có, chỉ có đôi xăng đan thôi.

Ấy thế mà khi Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ học trò đến lượt Phero, Ông phản ứng cự tuyệt ngay. Có lẽ Phero cũng có cảm giác khó chịu khi bị đụng vào chân mình, mặc dù Ông nghĩ khác.

Với Phero, Chúa Giêsu, người Thầy của mình cùng là Thiên Chúa, Đấng có địa vị cao cả, mà lại sát gần mình như thế. Nên có thể là điều rất khó cho ông hiểu chấp nhận được.

Nhưng Chúa Giêsu không để mình bị đánh lạc hướng. Ngài không lùi bước. Nhưng tiếp tục sát gần bên cạnh các môn đệ học trò mình bằng cử chỉ rửa chân cho họ, và còn cắt nghĩa cho họ hiểu vể  cử chì này nữa.

Chúa Giêsu là Thầy, là Thiên Chúa, nhưng ngài làm công việc phục vụ của người hầu hạ, người đầy tớ đi rửa chân cho người khác, là muốn sát gần với các môn đệ học trò mình. Và Ngài còn yêu cầu các Ông : Hãy làm như Thẩy đã làm.

Đây là cử chỉ có một không hai nói lên cung cách nếp sống tình yêu trọn vẹn không giới hạn nào. Thánh Gioan đã viết trong phúc âm“ Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. “ Ga 13,1.

Chúa Giêsu rửa chân cho 12 Môn đệ là một quãng đường của con đường yêu thương của Ngài. Con đường yêu thương đó kết thúc hoàn hảo nơi cây thập tự trên đồi Golgotha, nơi đó Ngài bị kết án đóng định cho tới chết.

Cung cách rửa chân của Chúa Giêsu như thế theo khía cạnh đạo đức thần học cũng là một Bí Tích giúp cho các Môn đệ Chúa Giêsu hiểu cảm nhận ra tình yêu và sự sát gần của Chúa với họ.

Con người chúng ta cảm nhận ra, khi gặp gỡ Chúa Giêsu qua Bí tích Thánh Thể dưới hình Bánh và Rượu là hy lễ tình yêu của Chúa Giêsu cho con người. 

Con người chúng ta có thể cảm nhận ra, khi hành động như Chúa Giêsu đã làm, là rửa chân cho người khác , tức là phục vụ người khác với lòng yêu mến khiêm nhượng kính trọng không biên giới.

Thứ Năm Tuần Thánh 2015

BẢY LỜI SAU CÙNG CỦA CHÚA GIÊ SU


Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

Trên thập gía trước khi qua đời, Chúa Giêsu đã nói những lời sau cùng. Phúc âm theo Thánh Mattheo và thánh Maccô thuật chỉ có một lời, đang khi Phúc âm theo Thánh Luca thuật lại ba lời, và phúc âm theo Thánh Gioan thuật lại thêm ba lời. Cộng chung lại có tất cả bảy lời của Chúa nói trên thập gía.



1. Ly Cha, xin tha cho h, vì h không biết vic h làm. Lc 23,34

Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu vào giây phút sau cùng trước khi chết cho bạn hữu , cho cả kẻ thù nghịch giết mình, cho kẻ không tin chấp nhận Chúa và kẻ ghét hận thù Chúa. Lời cầu nguyện xin ơn tha thứ làm hòa bao trùm cho quan tòa xử án , cho lính tráng thi hành bản án đóng đinh Chúa vào thập gía. Và cho cả những người đạo đức không sao hiểu nổi được tại sao Chúa lại để bị xử như thế.

2. Ngay hôm nay anh s được vi tôi trên Thiên đàng.“ Lc 23,43

Như thế Chúa Giêsu chấp nhận lòng chân thành của tên trộm cùng bị xử án đóng vào thập gía với Chúa. Người trộm này đã thành thật nhận tội lỗi việc làm bất chính của mình, đồng thời công nhận tuyên xưng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, xin Ngài  tha thứ cho và nhớ đến mình.

Người „ trộm lành“ này đã được Chúa Giêsu không chỉ cho vào Thiên đàng sau khi chết, mà còn như được Chúa phong Thánh cho nữa. Nên Giáo hội Chính Thống tin như vậy, và họ lập một bàn thờ trong đền thờ mộ Chúa Giêsu sống lại ở Gierusalem, tôn kính vị Thánh trộm lành này.

3. Thưa bà, đây là con bà / Đây là m ca con. Ga 19,26

Mẹ Maria đã cùng theo sát con đường vác thập gía của con mình đến tận đồi Golgotha, nơi Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập gía. Ngày xưa Mẹ Maria đã cưu mang trong cung lòng mình Chúa Giêsu, rồi trong suốt quãng đường hơn 30 năm, mẹ Maria đã lo lắng chăm sóc nuôi Chúa Giêsu con mình, và giờ phút chót đau khổ sau cùng đời sống con mình, mẹ Maria cũng có mặt sát bên con mình. Không phải chỉ trong tinh thần, nhưng mẹ Maria đến đứng ngay sát dưới chân thập gía Chúa Giêsu.

Thấy mẹ mình, lòng hiếu thảo nơi con người Chúa Giêsu đã bừng dậy. Và Chúa đã tin tưởng trao dối nhiệm vụ cho Thánh Gioan, môn đệ Chúa cũng đang đứng đó : Anh hãy làm công việc lo săn sóc cho mẹ của tôi. Mẹ của tôi cũng là mẹ của anh. 

4. Ly Thiên Chúa, ly Thiên Chúa, sao Chúa n b rơi con? Mc 15,34, Mt 27,46

Những lời than thở này bằng tiếng Aramien thời Chúa Giêsu: Eli, eli lema sabachthani? Lời này là lời cầu xin than van trong Thánh Vịnh 22,2 về sự bị Chúa bỏ rơi cô đơn. Lời cầu nguyện than thở này đồng thời nói lên tâm tình Thiên Chúa không quên ai khi kêu cầu với Người.

5. Tôi khát Ga 19,28

Chúa Giêsu trong cơn đau khổ đã xin sự giúp đỡ. Đói và khát lả nhu cầu căn bản của đời sống. Người đang hấp hối quằn quại trong đau khổ. Chúa khát nước cũng còn nói lên: Có biết bao nhiêu người cũng đang đói khát như Ngài, thực phẩm nước uống, nhất là thực phẩm nước uống tinh thần đức tin.

6. Thế là đã hoàn tt Ga 19,30

Sau trận chiến thắng, vị chỉ huy chiến dịch nói báo cáo với cấp trên“ sứ mạng đã hoàn tất“. Chúa Giêsu nói lời này là một người chiến thắng. Nhưng không là người chiến thắng được người khác đến bắt tay chúc mừng.

Chiến thắng của Người là tình yêu người mang đến cho con người đã đạt đến đích điểm. Hoàn tất những gì mang đến sự sống cho con người bị kết án phải chết vì tội lỗi. Ý muốn của đức Chúa Cha đã được thực hiện viên mãn. Sự cứu độ đã được thực hiện hoàn tất trọn vẹn trên thập gía.

7. Ly Cha, con phó dâng linh hn con trong tay Cha.“ Lc 23,46

Cái chết của Chúa Giesu trên thạp gía là sự chiến thắng của Thiên Chúa.  Lời này Chúa Giêsu ở trong Thánh Vịnh 31,6 của Vua thánh David chỉ về tương lai cứu độ. Thiên Chúa che chở gìn giữ những kẻ trung thành tin tưởng nơi Ngài. Nước thiên đàng mở ra cho những người như thế.

Chúa Giêsu chịu đau khổ và sau cùng chết là một người Do Thái đạo đức. Bảy lời sau cùng của Chúa là bằng chứng lịch sử cho sự chết này.

Những người đứng chung quanh dưới chân thập gía Chúa Giêsu năm xưa đã tận tai nghe những lời này.

Họ là mẹ Maria cùng những người phụ nữ khác, đã không chạy ra xa trốn khỏi đồi Golgotha. Không gian khu đồi Golgotha và bức tường thành bao vây xung quanh đền thờ Gierusalem, những người lính canh và những kẻ tò mò, đều đã nghe tiếng những lời này vọng đến.

Thánh Gioan tông đồ của Chúa, người sau này đã viết phúc âm, đã tận mắt nhìn thấy những sự việc đã xảy ra và đã nghe, là nhân chứng thân thiết sống động về biến cố này.

Và cả  Ông Nicodemo và Ông Giuse thành Arimathia, họ đã tháo gỡ thân xác Chúa Giêsu xuống khỏi thập gía, rồi mang an táng trong mộ huyệt đá ở khu vườn gần nơi Chúa Giêsu bị đóng đinh, cũng là những người đã thấy, đã nghe và làm chứng về những lời sau cùng của Chúa Giêsu.

Những lời ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu từ hơn hai ngàn năm nay vẫn luôn để lại cho con người trần gian. Đó là những lời tình yêu, lời mang lại sự sống cho linh hồn con người.

Thứ sáu tuần thánh 2015


  

Thứ Bảy, ngày 28 tháng 3 năm 2015

ĐỀN THỜ ĐỒI GOLGOTHA VÀ MỘ CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI


 Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long 


Từ xưa nay, đều có những đoàn người hành hương từ khắp nơi trên thế giới đến kính viếng đền thờ đồi Golgotha, nơi Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập gía, cùng ngôi mộ, nơi Chúa Giêsu được an táng và đã sống lại. Hai nơi thánh này cùng nằm trong một đền thờ ở Gierusalem vùng cổ thành.

Khách hành hương đến kính viếng hai nơi thánh này, những mong tưởng có dịp thuận tiện tốt lành, nhất là bầu khí thánh thiêng yên tĩnh để cầu nguyện, mong đụng chạm xờ vào di tích thánh tảng đá núi đồi , nơi cây thập gía Chúa Giêsu ngày xưa dựng cắm, mong qùy xuống hôn kính viên đá nấm mồ nơi Chúa Giêsu đã nằm yên nghỉ trước khi sống lại từ cõi chết…

Nhưng nhiều người đã thất vọng. Vì bầu không khí nơi đó khác hẳn với nghĩ tưởng, hầu như „ hương vị thánh“ gần như tan loãng. Lý do là các khách hành hương thuộc đủ mọi tôn giáo, mọi nước ra vào nhộn nhịp, rồi những nghi lễ khác nhau của các tôn giáo cử hành ở các bàn thờ khắp trong đền thánh, và cộng thêm những hướng dẫn cắt nghĩa của những nhóm du khách hành hương nữa.

Đền thờ mộ Chúa Giêsu nơi đây không thuộc riêng về một tôn giáo nào. Nhưng là của chung những tôn giáo Chính Thống giáo Hy Lạp. Chính thống giáo Armenien, Công giáo do Dòng Phanxico đại diện, Chính Thống giáo Cốp, Chính thống giáo Syria, Chính thống giáo Ethiopia. Thành ra 6 Tôn giáo đó cùng chung thờ phượng Chúa trong một ngôi đền thờ.

Ngày xưa Chúa Giêsu chết trên thập gía giữa cảnh ồn ào nhộn nhịp lộn xộn thế nào, thì ngày nay có lẽ cũng diễn ra gần như vậy.

Dẫu vậy, người hành hương, người tín hữu Chúa Kito tin rằng nơi đó Chúa Giêsu đã bị đóng đinh trên thập gía cho tới chết, và sau đó Ngài được mai táng trong khu mộ ngay sát cạnh đó trước khi Ngài sống lại, là di tích nơi thánh cho lịch sử thần học đức tin Công giáo cùng những tôn giáo khác cùng tin vào Chúa Giêsu.

Từ khía cạnh đó, người ta đi tìm hiểu lịch sử của ngôi đền thánh này, không chỉ về phương diện năm tháng xây dựng, nhưng còn về ý nghĩa đạo đức thần học nữa.

Đền ththi Vua Constantino

Trong dòng thời gian ba thế kỷ đầu tiên sau Chúa vtri, các tín hữu Chúa Kitô thời Giáo hội sơ khai chú trọng tới việc đạo đức thần học là việc chính. Giáo hội sơ khai chú ý đến ý nghĩa sự chết của Chúa Giêsu trên thập gía và sự phục sinh của Chúa nhiều hơn. Còn nơi chốn Chúa chịu đóng đinh đồi Golgotha, mộ thánh của Chúa ở Gierusalem với họ là việc phụ thôi, họ không chú trọng đến.

Mãi đến thời hoàng đế Constantin thứ nhất di tích hai nơi thánh mới dần lộ diện ra ánh sáng được biết đến. Constantino sau khi thắng Licinius năm 324 , ông trở thành hoàng đế của đế quốc Roma thống trị toàn vùng miền phía đông của đế quốc, và là vị vua đầu tiên Ông trở lại Công giáo trong đế quốc Roma. Từ đó đạo Công giáo được công nhận và bắt đầu phát triển lan rộng.

Mùa Hè 325 Hoàng đế Constantino triệu tập Công đồng Công giáo ở Nicea. Hoàng đế muốn không chỉ về phương diện chính trị, mà còn muốn hợp nhất một Giáo Hội theo khía cạnh thần học tương đương phù hợp một vương quốc và một giáo Hội.

Ở Công đồng Nicea bản kinh tin kính được các Giám mục viết về Chúa Giêsu: „ Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô….vì loài người chúng tôi, và để cứu độ chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế, và đã làm người. Người chịu đóng đinh vào thập gía, và ngày thứ ba người sống lại, Người lên trời và người sẽ trở lại, để phán xét người sống và người chết…“.

Từ căn bản thần học đó của Công Đồng Nicea, nhà Vua cùng với Thánh nữ Helena là mẹ của Vua đã cho xây dựng đền thờ đôi đầu tiên ở Gierusalem để kính nhớ sự chết đau khổ và sự sống lại khải hoàn của Chúa Giêsu, đồng thời cũng cho xây dựng một đền thờ nữa trên núi Cây dầu ở Gierusalem để kính nhớ Chúa Giêsu lên trời.

Phương án cho xây dựng đền thờ ở ba nơi đó phù hợp với ba giai đoạn đời Chúa Giêsu như diễn tả trong kinh Tin Kính của Công đồng Nicea. Có thể nói được, „chương trình bản hòa tấu thần học“ kinh tin kính đó nhà Vua đã cho viết khắc trên đá nơi công trình xây cất  đền thờ đầu tiên năm 325. Và sau 10 năm xây dựng, đền thờ được khánh thành năm 335.

Đền thbphá hy

m 614 đền thờ bị quân Batư chiếm gây ra cảnh tàn phá cùng với những nhà thờ khác nữa ở Gierusalem. Nhưng cây thánh giá Chúa Giêsu trong đền thờ được kịp thời do tướng Shahrbaraz đưa đi cất dấu. Và năm 629 đền thờ được chiếm lại, cây Thánh gía Chúa Giêsu được đưa trở lại đền thờ, và đền thờ được sửa chữa lại cho xứng đáng. Đền thờ và những nhà thờ khác ở Gierusalem trong thời kỳ này, dù do nhng vị cai trị người Hồi Giáo trị vì, được bảo vệ không bị tàn phá. Những người tín hữu Chúa Kitô đã có một thời gian dài trở thành số đông dân số sống trong Gierusalem. Họ được hưởng đời sống an toàn.

Nhưng đến thời hoàng đế Carolo thứ nhất sự chuyển hướng tấn công những cơ sở ca người tín hữu Chúa Kitô bắt đầu. Từ thời kỳ này có nhiều nhà thờ bị tàn phá không còn trên bản đồ thành phố nữa. Không rõ chính xác, nhưng vào mùa Thu 1009  Kalif Al-Hakim, cai trị Ai Cập ở Kairo từ 1000 đến 1021, đã xâm chiếm tàn phá đền thờ Golgotha và mộ Chúa Giêsu..

Sau những đề nghị hội thảo về những hiệp ước hòa bình  với Giáo Hội Bysantin bên Đông phương, những lễ nghi phụng tự được phép cử hành trên đống đổ nát hoang tàn của đền thờ. Và sau cùng từ năm 1033 đến năm 1048 được phép xây dựng lại đền thờ. Đền thờ mới xây dựng lại không còn bộ mặt như cũ nữa. Nhưng chỉ rotundus -Vòng cung hình tròn-  sự phục sinh sống lại của Chúa Giesu Kito được xây dựng lại, ngôi mộ thánh của Chúa Giêsu chỉ còn lại một khung hình vòng cung thôi.

Năm 1099 Đạo binh thánh gía theo lời kêu gọi của đức giáo hoàng Roma đã tiến về Giêrusalem chiếm lại đền thờ mộ Chúa Giêsu và những đền thờ khác ở Gierusalem từ tay Hi giáo. Và từ năm 1160-1170 Mộ thánh Chúa Giêsu được xây dựng lại cho hoàn chỉnh.

Năm 1555 đền thờ được xây dựng lại như mô hình thuở ban đầu. Đến năm 1808 đền thờ lại bị hỏa hoạn cháy tàn phá và lại được xây dựng mới trở lại. Dù được xây lại mới, nhưng công trình cũng giữ lại theo chiều hướng uvết tích của đền thờ cũ.

Sao các Bn tìm người sng nơi người chết?

Ai đến kính viếng mộ thánh Chúa Giêsu trong đền thờ đều gặp  trước hết một gian phòng ngay trước mộ có hàng rào xây vây chung quanh và có tượng Thiên Thần.

Thiên Thần này đã hỏi các người phụ nữ sáng sớm ra thăm viếng mộ Chúa Giêsu khi xưa: Sao các người tìm người sống, nơi người chết vậy? (Lc 24,5. )

Bước qua căn tiền phòng này người hành hương phải cúi mình xuống thấp chui qua một cửa nhỏ mới vào được căn phòng mộ nhỏ, căn phòng nầy đã được xây dựng từ thời Vua Constantino năm 325. Nơi địa điểm này „ Chúa Giêsu đã được đặt nằm an táng“ (Mt 28,6)

Người hành hương chui vào căn phòng mộ nhỏ chỉ có một tấm đá dài trống trơn, qùy xuống kính viếng nơi ngày xưa Chúa Giêsu đã nằm an táng. Và có lẽ trong  trong tâm trí vang lên lời Thiên Thần đã nói ngày xưa“ Sao các bn tìm người sng nơi người chết sao? Người không còn nơi đâyNgười đã chi đậy sng li ri.(Lc 24,5.)

Vào thăm viếng mộ đá Chúa Giêsu trống trơn, nhưng gợi vang lên hai khía cạnh: sự hấp dẫn và chỉ hướng. Hấp dẫn vì đến tận nơi huyệt đá gốc ngọn nguồn của đức tin, và có được sự tĩnh tâm chú ý. Sự chỉ hướng là tìm thấy sự vắng mặt người chết, và hướng về người sống, một căn bản của đức tin.

Năm 1545 đền thờ bị phá hủy nặng do trận động đất gây ra, và sau đó được Dòng Phanxico tu sửa lại, nhất là phần ngôi mộ thánh. Tu sỹ Dòng Phanxico Guardian Bonifatius von Ragusa đã ghi li trong một bức thư cảm động nói về mộ rất thánh aperto ss. Sepulcro, như nhân chứng đã quan sát nhìn thấy ngôi  mộ thánh cũ trước khi bị tàn phá và được xây mới lạl“

„ Ngôi mộ rất thánh của Chúa được đục trong hang núi đá. Trong hang có hai bức hình vẽ Thiên Thần chồng lên nhau. Một Thiên Thần với tấm băng rôn có hàng chữ Người đã sng li ri Người không còn ở đây, đang khi vị Thiên Thần khác bằng ngón tay chỉ vào chhuyệt chôn „ Đây là chNgười đã được đặt nm an táng Mc 16,6…..

Còn đang ngạc nhiên thì chúng tôi nhìn thấy một chỗ trống, nơi Chúa Giesu đã nằm ba ngày. Địa điểm này chiếu tỏa ánh sáng lóng lánh như ánh sáng mặt trời của máu cực thánh Chúa Giêsu trộn lẫn với dầu thơm., mà người ta đã ướp khi tẩm liệm mai táng…

Ở giữa nơi cực thánh này chúng tôi tìm thấy một khúc gỗ bọc trong một tấm khăn lau mồ hôi. Khi chúng tôi cung kính cầm lên tay và hôn kính, lúc đó không khí thoát ra, tấm khăn lau mồ hôi tan rữa ra tay chúng tôi không còn gì nữa., chỉ một vài sợi chỉ vàng còn sót lại.

Trên khúc gỗ có dòng chữ, nhưng dòng chữ này cũng đã bị tiêu hủy vì lâu đời rồi, đến nỗi người ta không thể ghép đọc những chữ đó thành câu được. Duy nhất trên hàng đầu của tấm bản người ta có thể đọc được những chữ viết lớn bằng tiếng latinh: HELENA MAGNI CONSTINI MATER FECIT, Helena, mẹ của đại đế Constantino đã làm.“

Về diện tích chu vi của căn phòng ngôi mộ Chúa Giêsu, Tu sỹ Maximos Symaios, người chhuy giám sát việc xây dựng lại ngôi mộ năm 1808 sau trận hỏa hoạn đã ghi chú lại kích thước ngôi mộ “ Hang đá ngôi mộ thánh làm bằng đá qúy của một vị vua có chiều dài ba xải, chiều rộng một xải rưỡi và chiều cao bốn xải, khoảng 140 x70 x185 cm. Phía nam và phía bắc chỉ là bức tường ngăn, trong khi phía đông và phía tây và mái bên trên được xây dựng. Nền nhà bằng đá.“

Đồi Golgotha bây giờ là một bàn thờ có thánh gía Chúa Giêsu bị đóng đinh trên đó, dưới chân bàn thờ có một lỗ hổng ăn thông xuống bên dưới có tảng đá được bảo quản trong tủ lồng kính cẩn thận. Lỗ hổng đó là nơi ngày xưa cây thập giá Chúa Giêsu được dựng cắm, và tảng đá đó là tảng đá chỗ thập gía Chúa được dựng cắm lên. Bàn thờ này thuộc Giáo hội Chính Thống. Ngay bên cạnh phía bên phải có một bàn thờ Công giáo với hình Chúa Giêsu nằm trên thập gía có Đức mẹ đứng bên cạnh và thánh nữ Mai đệ liên quỳ ôm chân Chúa đang khóc.

Ngoài ra trong ngôi đền thờ này còn có những bàn thờ, nhà nguyện nhỏ khác nữa, như nhà nguyện Thánh Thể hay còn có tên là nhà nguyện Chúa Giêsu hiện ra với Đức mẹ Maria sau khi sống lại, trong nhà nguyện này có một cột đá mầu đen là cột trụ Chúa Giêsu bị trói, bàn thờ kính Thánh nữ Maria Maiđệ liên, nhà nguyện kính Thánh nữ Helena, nhà nguyện kính Adong Eva, bàn thờ kính người trộm lành được Chúa Giêsu chúc phúc cho lên thiên đàng.

—————————————————-
Ngôi mộ chôn Chúa Giêsu được xây dựng bằng đá. Táng đá lịch sử đó quan trọng theo phương diện chính trị tôn giáo, hay khoa khảo cổ học.

Ngôi mộ chôn Chúa Giêsu bằng đá với người tín hữu Giáo hội thời tiên khởi sau khi Chúa Giêsu về trời là nơi đã diễn ra ơn cứu độ chữa lành. Và vì thế họ rất mực tôn kính.

Ngôi mộ trống của Chúa Giêsu là chốn khởi điểm của đức tin Kitô giáo, đức tin Chúa Giêsu sống lại. Đây là sự cứu chuộc chữa lành tận căn rễ cho nhân loại khỏi hình phạt tội lỗi phải chết. Điều này nói lên không có sự chữa lành nào có thể mang đến như sự cứu độ của Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết.

Tuần Thánh 2015

__________________________________

Lấy cảm hứng từ:

-   Welt und Umwelt der Bibel, 3000 Jahre Jerusalem, Nr. 1-1996
-   Welt und Umwelt der Bibel, Faszination Jerusalem, Nr 16, 1999

-   Grabekirche Wikipedia

CHIA SẺ: BÀI MỚI

GIÁO HỘI: BÀI MỚI

MẸ MARIA - THÁNH GIUSE - CÁC THÁNH: BÀI MỚI

VĂN HÓA: BÀI MỚI

DI CẢO LM. J.H

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Affiliate Network Reviews