Thứ Năm, ngày 29 tháng 1 năm 2015

HÔN NHÂN KHÁC ĐẠO


Hôn nhân khác đạo gọi là “hôn nhân liên tôn”. Cái gì khác nhau cũng có thể gây phiền toái, nhất là cái khác đó liên quan vấn đề tôn giáo.

Hôn nhân khác đạo có thể là một thách đố, luôn cần nhiều tình yêu và khéo léo giao tiếp. Tuy nhiên, hôn nhân khác đạo cũng có thể là đại phúc giúp vợ chồng lớn mạnh trong niềm tin của nhau.

Đây là các gợi ý dành cho những người Công giáo kết hôn với người khác tôn giáo:


1/ ĐỪNG “HOÁN CẢI” NHAU

Bạn có thể chia sẻ sự nhiệt thành đối với niềm tin của mình và thật lòng trả lời các câu hỏi, nhưng đừng thúc ép người bạn đời phải gia nhập Công giáo. Giáo Hội khuyên: “…Các cặp vợ chồng khác đạo có thể sống trong hoàn cảnh đặc biệt theo ánh sáng của Đức Tin, vượt qua mọi sự căng thẳng giữa trách nhiệm đối với nhau và cộng đoàn, khuyến khích phát triển các điểm chung về niềm tin và tôn trọng các điểm khác nhau” (GLCG số 1636).

2/ CẦU NGUYỆN CÙNG NHAU

Hằng ngày nên dành thời gian cầu nguyện với nhau. Mới đầu có thể khó, nhưng hãy kiên trì để có thể đạt được cách cầu nguyện chung và có lợi cho cả hai về tâm linh. Một cách hay là cùng đọc Kinh Thánh hoặc tìm hiểu về Kinh Thánh.

3/ DUY TRÌ ĐỨC TIN

Người Công giáo có thể dễ xa rời Đức Tin vì cảm thấy khó hòa hợp trong hôn nhân khác đạo. Vấn đề quan trọng là phải biết tôn trong niềm tin của người bạn đời, nhưng đừng thỏa hiệp. Nếu không thể tham dự Thánh Lễ hằng ngày thì hãy cố gắng tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật, hãy đề nghị người bạn đời cùng đi. Hãy xưng tội vào những dịp lễ, tết, và các dịp đặc biệt. Bí tích Hòa Giải tạo cơ hội tốt để thảo luận về mọi điều khó khăn của cuộc sống hôn nhân khác đạo. Bạn có thể đề nghị người bạn đời cùng nhau gặp linh mục và thảo luận về bất kỳ vấn đề gì.

4/ GIÁO DỤC CON CÁI

Theo Giáo Luật, người không Công giáo phải đồng ý cho con cái gia nhập Công giáo và giáo dục chúng theo cách của Công giáo. Hãy bảo đảm cho chúng nền tảng Đức Tin vững chắc và được lãnh nhận các bí tích. Điều này rất “nhạy cảm” đới với người bạn đời khác đạo. Hãy dạy con cái tôn trọng niềm tin của cha hoặc mẹ của chúng, và hãy khuyến khích chúng đặt ra các câu hỏi.

5/ CHIA SẺ ĐỨC TIN

Hãy lưu ý các điểm chung về tâm linh và hỗ trợ nhau trên hành trình tâm linh, nhưng hãy tôn trọng các điểm khác nhau. Tránh chỉ trích hoặc chê bai niềm tin của nhau. Nếu không thể trả lời câu hỏi về Đức Tin, hãy tìm câu trả lời ở sách báo hoặc nhờ người có uy tín. Hãy tìm hiểu Công giáo và chia sẻ với người bạn đời. Hãy cầu xin Chúa giúp hiểu nhau và tôn trọng nhau.

6/ VĨ NGÔN

Bạn phải hy sinh và hành động khéo léo trong hôn nhân khác đạo, cố gắng để có lợi ích cho gia đình và xã hội. Thánh GH Gioan Phaolô II nói: “Hôn nhân giữa người Công giáo và người khác đạo có bản chất riêng, nhưng có nhiều yếu tố có thể tốt và phát triển, cả về giá trị thực chất và về sự đóng góp mà họ có thể tạo sự đại kết. Điều này rất thật khi hai người trung thành với nhiệm vụ tôn giáo của mình. Phép Rửa và động lực của ân sủng cung cấp cho họ nền tảng và sự thúc đẩy để diễn tả sự kết hợp trong lĩnh vực luân lý và tâm linh” (Tông huấn Familiaris Consortio).


Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ Beliefnet.com

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2015

NÚI ĐÁ VÀ THÀNH LŨY BẢO VỆ ĐỜI CON CHÍNH LÀ THIÊN CHÚA!



... Chị Bertha là nữ tu dòng Chúa GIÊSU Hài Đồng hiện phục vụ dân nghèo ở Selayang bên nước Mã-Lai. Cuộc gặp gỡ với phong trào Đức Tin và Ánh Sáng chuyên chăm sóc người khuyết tật đã khơi động tình liên đới mới giữa dân nghèo và biến đổi Chị. Xin nhường lời cho Chị Bertha.


 Tôi sống nơi một trại phong cùi ở Selayang. Tại khu vực này người ta xây những căn nhà rẻ tiền thay thế cho khu ổ chuột. Cùng với các nhân viên thiện nguyện chúng tôi quản nhiệm một vườn trẻ, một trường dành cho trẻ em kém may mắn và một trung tâm huấn nghệ để dạy may, dạy làm bánh và hớt tóc. Tôi chưa bao giờ nghe nói đến phong trào Đức Tin và Ánh Sáng cho đến một ngày tôi nhận được chương trình của một dự án mang tựa đề ”Nối Vòng Tay, Chạm Đến Những Mảnh Đời”. Một trong 4 tổ chức tham gia dự án này là phong trào Đức Tin và Ánh Sáng. Mục đích của dự án ”Nối Vòng Tay, Chạm Đến Những Mảnh Đời” là liên kết chúng tôi lại với nhau để cùng phục vụ một thân thể duy nhất, bằng cách chia sẻ các nguồn lợi, đào sâu mạng lưới liên đới và hợp tác trong việc tìm kiếm các ngân quỹ để hỗ trợ cho thừa tác vụ của chúng tôi. Chính nhờ dự án thành hình mà chúng tôi mở một cuộc lạc quyên để trợ giúp tài chánh cho chuyến hành hương của phong trào Đức Tin và Ánh Sáng diễn ra tại Plentong vào tháng 2 năm 2012.

 Khi dự án ”Nối Vòng Tay, Chạm Đến Những Mảnh Đời” thật sự bắt đầu, tôi nói với các phụ nữ nghèo làm chủ một tiệm bánh mì nhỏ được thành lập tại Prima Selayang, khu vực nơi tôi đang sống, về ai là người đã giúp đỡ chúng tôi. Các phụ nữ nghèo tức khắc đáp lời:
- Đúng rồi! Chúng ta phải giúp phong trào Đức Tin và Ánh Sáng và đừng nghĩ đến chuyện tìm kiếm những lợi lộc cho riêng chúng ta!

 Câu nói khiến tôi hết sức xúc động. Các phụ nữ nghèo luôn luôn mau mắn giúp đỡ những người gặp khó khăn và quên hẳn nhu cầu riêng của mình.

 Thời gian sau đó tôi có dịp gặp cô Luisa Lowe người điều hành các cộng đoàn Đức Tin và Ánh Sáng ở Mã-Lai. Qua cô Luisa THIÊN CHÚA bảo tôi đến và xem. Nhờ thế mà tôi có dịp tham gia chuyến hành hương của phong trào. Điều làm tôi ngỡ ngàng thán phục nhất là vẻ đẹp của các trẻ em và người lớn dành cho một người tàn tật tâm trí: niềm vui, tình yêu thương và tiếng cười họ trao cho nhau. Sinh hoạt của các người tháp tùng được đâm rễ sâu nơi cuộc sống đức tin của họ.

Sau lần hành hương đó tôi thật sự bị xao xuyến. Nếu tôi nhìn thấy sự hiện diện của các trẻ em tàn tật nơi cộng đoàn nghèo nàn ở Prima Selayang, hẳn tôi không lưu tâm cũng chả thèm ngó ngàng đến chúng. Giờ đây tôi hiểu rõ hơn rằng các trẻ em tàn tật phản ảnh các phẩm chất của THIÊN CHÚA. Nếu biết chú ý đến nét đặc thù của các trẻ em tàn tật thì tôi có thể chiêm ngắm công trình sáng tạo của THIÊN CHÚA qua các em!

 Tôi liền xin cô Luisa mỗi tháng một lần tổ chức buổi gặp gỡ của cộng đoàn Đức Tin và Ánh Sáng nơi căn hộ của tôi. Ban đầu các phụ nữ bản xứ nghèo do dự không muốn đến. Đối với họ: các trẻ em tàn tật là một chúc dữ lẻn vào gia đình, hậu quả của một hành động xấu đã làm trong quá khứ. Tôi liền nghĩ rằng: ”Phương thế duy nhất để tháo bỏ cái niềm tin sai lầm này là phải mang đến cho họ Tình Yêu THIÊN CHÚA”.

Và đúng như tôi nghĩ. Sau khi nghe chứng từ của Reena, một thiếu nữ Công Giáo bản xứ bị mù, các bà mẹ nghèo đã thay đổi tâm tư cùng thái độ. Các bà chú ý nhiều hơn đến các đứa con bị tàn tật, chấp nhận chúng cũng quý giá, hiểu rằng chúng phải được quan tâm chăm sóc với nhiều tình thương hơn các đứa con bình thường. Các đứa trẻ cũng vội vã đến tham dự các buổi gặp gỡ hàng tháng. Thật cảm động biết bao khi chứng kiến niềm vui và những tiếng cười dòn dã được chia sẻ mỗi khi cộng đoàn Đức Tin và Ánh Sáng quy tụ nơi căn hộ tôi. Tôi xác tín sâu xa rằng ngôn ngữ tình yêu được mọi người hiểu. Nó siêu việt hóa nhân chủng, tôn giáo, văn hóa, tình trạng kinh tế và xã hội.

 Cộng đoàn Đức Tin và Ánh Sáng đã biến đổi tôi. Tôi nghĩ rằng các ân huệ của THIÊN CHÚA được trưng bày trên các kệ, cái này trên cái kia và nếu chúng ta càng lớn lên trong đời sống đức tin thì các ân huệ sẽ được đặt ngang tầm tay của chúng ta.

 ... ”Xin Ngài nên như núi đá cho con trú ẩn, như thành trì để cứu độ con. Núi đá và thành lũy bảo vệ con, chính là Chúa. Vì danh dự Ngài, xin dẫn đường chỉ lối cho con .. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con. Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín .. Lạy Chúa, cao cả thay tấm lòng nhân hậu, Chúa dành cho kẻ kính sợ Ngài, và thi thố trước mặt phàm nhân, cho ai tìm đến Ngài nương náu. Bên thánh nhan, Ngài giấu họ kỹ càng khỏi người đời mưu hại. Ngài che chở họ trong lều thánh, xa tầm lưỡi thị phi. Chúc tụng Chúa đã tỏ tình thương kỳ diệu đối với con trong thành trì vững chắc .. Hết mọi người hiếu trung với Chúa, hãy yêu mến Chúa đi! Chúa giữ gìn những ai thành tín, nhưng thẳng tay trừng trị người ăn ở kiêu căng. Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Thánh Vịnh 31(30),3-4/6/20-22/24-25).

 (”OMBRES & lumière”, Revue Chrétienne Des Personnes Malades Et Handicapées, De Leurs Familles Et Amis, No 191, Janvier-Février 2013, trang 15-16)

 Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Thứ Sáu, ngày 09 tháng 1 năm 2015

ĐỨC MẸ LA VANG





I. ĐÔI NÉT VỀ LINH  ĐỊA LA VANG:

Vào cuối thế kỷ 18, Việt Nam bị chia làm 2 miền. Miền Bắc do Chúa Trịnh cai trị. Miền Nam do Nhà Nguyễn cầm quyền. Vì muốn thống nhất hai miền, nhà Nguyễn yêu cầu nước Pháp giúp đỡ. Nhưng nhóm trí thức, được gọi là nhóm “ Văn Thân” phản đối việc can thiệp của nước Pháp, nhóm này tuyên bố Quang Trung làm vua. Vua Quang Trung chiếm Miền Bắc, nhưng chẳng may chết sớm, để lại quyền kế vị cho con là Cảnh Thịnh vừa tròn 10 tuổi. Tháng 8/1798, các người cộng tác của vua Cảnh Thịnh ra lệnh bách hại các người công giáo, vì nhóm Văn Thân quả quyết rằng: sự hiện diện của Nước Pháp là trách nhiệm của người công giáo.

Bị bách hại, các tín hữu Công Giáo cùng với gia đình trốn vào rừng La Vang, cách xa làng mạc của họ khoảng 60 cây số. Can đảm đối phó với mọi khó khăn, mỗi ngày họp nhau lại đọc kinh Mân Côi kính Ðức Mẹ Maria. Một ngày kia, Ðức Mẹ hiện ra, bồng Chúa Giêsu Hài Ðồng, có hai Thiên Thần hầu cận. Ðây là lần hiện ra thứ nhất và sau đó còn tiếp tục nhiều lần khác nữa. Ðức Mẹ an ủi nhóm tín hữu trốn tránh đó và hứa che chở họ khỏi các sự dữ.

Năm 1886, các vụ bách hại chấm dứt. Một nhà nguyện đơn sơ được xây cất tại đây. Nhà nguyện này không bao lâu trở nên quá nhỏ hẹp. Từ năm 1885, có nhiều nhà nguyện được xây cất tiếp theo nhau; nhà nguyện sau cùng, có ba chuông nhỏ, được Ðức Cha Eugenio Maria Giuse Allys (tức Ðức Cha Lý), lúc đó là Giám Mục đại diện Tông Tòa giáo phận Huế, làm phép.

Trong những năm từ 1886-1928, La Vang thuộc giáo xứ Cổ Vưu, trong tỉnh Quảng Trị. Ðể đáp lại nhu cầu mỗi ngày mỗi nhiều của các đoàn hành hương, năm 1928 Ðức Cha Lý quyết định lập La vang thành một giáo xứ.

Năm 1958-1959, Ðại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc được tổ chức tại La Vang, với sự hiện diện của Ðức Hồng Y Agagianian, Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo và là Ðặc Sứ của ÐTC Gioan 23.

Ngày 13.4.1961, Các Giám Mục miền Nam Việt Nam họp nhau tại Huế, và khấn hứa với Trái Tim Cực Saïch Mẹ Maria là sẽ xây cất một Ðền Thánh, khi hoàn cảnh cho phép và khẩn xin Ðức Mẹ ban tự do và hòa bình cho hai miền Bắc-Nam.

Và trong thư luân lưu ngày 8.08.1961, các giám mục công nhận La Vang là Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc.

Ngày 22.08.1961, ÐTC Gioan XXIII cất nhắc nhà thờ La Vang lên bậc "Tiểu Vương Cung Thánh Ðường".

II. ĐỨC MARIA TRONG LÒNG GIÁO HỘI

Trong Giáo Hội, lòng sùng kính Đức Maria đã có từ thời các thánh giáo phụ, đặc biệt thánh Bênađô, dựa vào nền tảng Kinh Thánh, đã rao giảng và viết rất nhiều về lòng sùng kính Đức Maria và giải thích những nhiệm lạ cao siêu Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ, cách riêng mầu nhiệm Vô Nhiễm Nguyên Tội và Trọn Đời Đồng Trinh.

-       Trong Phụng vụ, Giáo Hội dành riêng một chỗ đứng đặc biệt cho Đức Maria: 12 lễ trong năm kính nhớ các mầu nhiệm liên quan đến Đức Maria; tháng 5, tháng 10 và ngày thứ Bảy (nhất là ngày thứ Bảy đầu tháng) là những ngày dâng kính Mẹ để kính nhớ và đền tạ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ và cầu nguyện cho hòa bình thế giới.

-       Hằng ngày vào buổi sáng, trưa, chiều, các tín hữu thường đọc kinh truyền tin (Mùa Phục sinh thì đọc kinh Lạy Nữ vương thiên đàng) để kính nhớ biến cố Đức Maria được truyền tin và Con Thiên Chúa xuống thế làm người qua tiếng xin vâng của Mẹ. Ngoài ra còn có các kinh: Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, kinh Trông cậy, Hãy nhớ, Kinh Kính chào Đức Nữ Vương, Kinh Lạy Nữ vương, Kinh Cầu Đức Bà…

-       Cũng có nhiều bản Thánh Ca nhằm ca ngợi và cầu nguyện với Đức Mẹ, như bài hát nổi tiếng thế giới là bài ‘Ave Maria’ của Franz Schubert. Hoặc bài ‘Như Phúc Lộc Triều Nguyên’ (Thơ Hàn Mạc Tử và nhạc hoà âm của Hải Linh). Không biết bao nhiêu bức họa và tượng Đức Mẹ nổi tiếng trên thế giới do các họa sĩ hay điêu khắc gia lừng danh như Michel Angelo với bức họa ‘Pieta’; Fra Angelico; Raphael; Germain Philon… Sách vở, báo chí và các thi phẩm viết về Đức Mẹ qua các thời đại cũng rất phong phú, đặc biệt là bài Thiên Thần truyền tin cho Đức Maria của văn hào Pháp Paul Claudel.

-       Để chống lại các lạc thuyết cũng như tỏ lòng yêu mến Mẹ, Giáo hội qua các công đồng đã xác tín:

·                     Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa được Công đồng Êphêsô tuyên tín năm 431: “Tuyệt thông những ai không tuyên xưng rằng Đấng Emmanuel thực sự là Thiên Chúa, và bởi thế, Đức Trinh nữ là Mẹ của Thiên Chúa”.

·                     Mẹ Maria Trọn Đời Đồng Trinh được Công đồng Latêranô tuyên tín năm 649. 

·                     Tại Lộ Đức, trong lần hiện ra sau cùng, (lần thứ 18) với Bernadette, Đức Maria đã xác tín “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên tội” và tín điều này được Đức Piô IX long trọng tuyên bố bằng sắc lệnh “Ineffabilis Deus” vào ngày Lễ Mẹ Vô nhiễm 8/12/1854. Thánh nữ Bernadette được Đức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh năm 1933..

·                     Mẹ Maria Hồn xác Về Trời được Đức Piô XII long trọng tuyên bố bằng Tông hiến “Munificentissimus Deus” ngày kính các Thánh 1/11/1950, như sau: “Để tôn vinh Thiên Chúa toàn năng là Đấng đã ban muôn vàn ơn lành đặc biệt của Ngài trên Trinh nữ Maria, để tôn kính Con Ngài là vua muôn đời, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, để Người Mẹ cao cả của Người được hiển vinh hơn, và để toàn thể Giáo hội hân hoan phấn khởi; … Tôi công bố, tuyên xưng và xác nhận như là một tín điều được Thiên Chúa mặc khải: Người Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội của Thiên Chúa, Đức Maria Trinh nguyên, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế của mình, đã được lên hưởng vinh quang trên trời cả xác lẫn hồn” (TCF. 207).

-        Trong thế kỷ XX, Đức Thánh Cha Piô XII, cũng đã thực hiện hai việc liên quan trực tiếp đến Đức Maria, đó là việc ngài cho mừng lễ Trái tim Đức Mẹ và Đức Mẹ Nữ Vương, và việc phong hiển thánh cho hai vị thánh của Mẹ, thánh Louis Marie Grignion de Monfort ngày 20/7/1947 và thánh Catherine Labouré (Tu Hội Nữ Tử Bác ái Thánh Vinh Sơn) ngày 27/7/1947. Đức Thánh cha nói về thánh nữ như sau: “Phục hồi lòng sốt sắng đã bị nguội lạnh trong hai hội dòng; nhận chìm toàn thể thế giới vào trận lụt đầy những mẫu ảnh kim loại nhỏ là những gì chứa đựng các ơn xót thương của Đấng Vô Nhiễm Nguyên tội ban cho cả hồn lẫn xác…”.

-        Công đồng Vatican II dành chương VIII của Hiến chế Tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium nói về Đức Maria trong Mầu nhiệm của Chúa Kitô và Mầu nhiệm Giáo hội. Trước khi kết thúc Công đồng, Đức Thánh Cha Phaolô VI công bố trước mặt toàn thể các nghị phụ của Công đồng, Ngài đã chính thức tuyên bố: “Ta mong muốn Mẹ Thiên Chúa phải được cả thế giới Kitô hữu tôn vinh và khẩn cầu hơn nữa bằng tước hiệu (Mẹ Giáo hội) tuyệt diệu này”.

-        Tông huấn Signum magnum được ban hành nhân dịp kỷ niệm 50 năm Fatima (13/5/1967) và Tông huấn Marialis cultus (2/2/1974) là những văn kiện đề cao vai trò của Mẹ Maria trong Giáo hội.

-        Đức Gioan Phaolô II cũng đã đẩy mạnh những suy tư về vai trò của Đức Maria trong chương trình cứu độ (thông điệp Redemtoris mater 25/3/1987) cũng như cổ động những thực hành sùng kính Đức Mẹ.

-        Sách giáo lý Giáo Hội Công giáo được ban hành năm 1992 đã dành cho Mẹ một chỗ đứng đặc biệt khi nhắc đến vai trò của Mẹ trong cả 4 phaàn.

-        Tước hiệu “Đức Maria Mân côi” phát xuất từ biến cố Mẹ hiện ra với Lucia, Phanxicô và Giaxinta. Trong  6 lần, kể từ ngày 13/5 đến 13/10/1917 và lần sau cùng, Mẹ đã khẳng định “Mẹ là Mẹ Mân Côi” và Mẹ khuyên nhủ mọi người: “Hãy ăn năn đền tội, tôn sùng Mẫu tâm Mẹ và siêng năng lần hạt mân côi”. Năm 1948, Lucia vào dòng Kín Camêlô, và qua đời ngày 13/2/2005. Riêng Phanxicô và Giaxinta đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong Á thánh ngày 13/5/2000.

-        Đến thế kỷ XXI, vào ngày 16/10/2002 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công bố Tông thư về Rosarium virginis mariae (16/10/2002) về Kinh Mân côi và ấn định Năm Mân côi, bắt đầu từ tháng 10/2002 đến 10/2003. Cũng trong Tông thư này, Đức Thánh cha thêm 5 mầu nhiệm sự sáng.

Lòng sùng kính Đức Maria trong Giáo hội quả thật đã có từ lâu đời, và ngày một được xác tín rõ rang hơn về vai trò và vị trí của Đức Maria trong Mầu nhiệm Chúa Kitô và mầu nhiệm Giáo hội. Lòng sùng kính ấy được diễn tả qua nhiều hình thức khác nhau và được đặt nền tảng trên Phúc âm và huấn quyền.

III. LÒNG SÙNG KÍNH CỦA GIÁO DÂN VIỆT NAM ĐỐI VỚI MẸ LA VANG

Lòng sùng kính của giáo dân Việt Nam đối với Mẹ La vang được diễn tả qua những tâm tình và hành động hết sức đơn sơ, bình dân và đôi khi có những cử chỉ vụng về. Những cử chỉ vụng về đó hầu như không gián đoạn nhưng luôn có sự sống động và liên tục. Chúng ta có thể nói lòng sùng kính ấy có đặc điểm: TRUYỀN THỐNG - TIN TƯỞNG - ĐƠN SƠ - PHÓ THÁC:

-     Với truyền thống tốt đẹp, trong các gia đình Công giáo Việt Nam hầu như đều có tập quán đọc kinh sáng tối. Trong đó, việc lần chuỗi Mân côi thường chiếm 2/3 số giờ. Vào tháng 5, tháng 10 phần đông các giáo xứ có tổ chức dâng hoa, đọc kinh tối chung tại nhà thờ, tại tư gia, liên gia, rước kiệu trọng thể, các giáo họ láng giềng đều nô nức về tham dự đại hội, với cờ quạt trống kèn. Tryền thống tốt đẹp này phát xuất từ những yếu tố nội tại và ngoại tại;

§    Nội tại: Người Việt Nam thường có tinh thần quyù trọng maãu heä, những từ “nội tướng”, “nội gia”, “mẫu thân” đều chỉ về người phụ nữ trong gia đình; ảnh hưởng nền lễ giáo Khổng Tử, tôn kính và hiếu thảo với mẹ cha,

§    Ngoại tại: các nhà truyền giáo khi đến Việt Nam, đã tìm ra “bản sắc mẫu tính” nơi tâm lý và văn hóa người địa phương, nên đã áp dụng phương pháp “nhờ Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu”

Do đó, vào những năm 1798, miền Trung Việt Nam dưới triều Tây Sơn, vua Cảnh Thịnh ban sắc chỉ cấm đạo toàn quốc và đàn áp rất khắc nghiệt, khiến dân chúng phải bỏ nhà bỏ cửa trốn lên núi, vào rừng, soáng chui ruùc raát khoå sôû. Ban ngày lén lao động cực nhọc để kiếm sống, tối đến họ tụ tập khuyến khích nhau giữ vững niềm tin vào Chúa và Mẹ Maria, sốt sắng đọc kinh lần hạt. Với niềm tin ấy, họ tin chắc Mẹ sẽ nhận lời.

-     Vì lo âu, vì khí độc, vì đói kém, vì sợ bị bắt và sợ thú dữ phanh thây ở nơi rừng thiêng nước độc, mầm mống cũng như bệnh tật lan tràn. Họ đặt niềm tin  vào  lệnh truyền của Mẹ, lấy lá cây chung quanh nơi Đức Mẹ hiện ra để nấu nước uống, tin rằng mọi bệnh tật được chữa lành, đồng thời dùng mọi thứ hoa quả  tại rừng Lá Vằng ăn cho đỡ đói lòng. Lạ thay, một khi nghe theo thì bệnh nhân được bình phục, và mọi người không còn thấy thiếu thốn bơ vơ như trước. Ai cũng hiểu là Mẹ đã truyền phép mầu vào đám cỏ cây ở rải rác chung quanh.

-     Lòng mộ mến Mẹ La vang đã đi vào trong thơ ca, sách báo và văn hóa nghệ thuật. Hầu như trên khắp 3 miền đất nước: trong nhà thờ, nguyện đường, tư gia, đều có bàn thờ Đức Mẹ được trân trọng, trang hoàng đẹp đẽ. Nơi làm việc, trên xe, trên cổ, trên mỗi cây nến sáp hay trong phòng riêng hình ảnh Mẹ La vang hiện diện rất sống động và mang đậm nét Á đông.

-     Về những cuộc hành hương kính Mẹ, ngay từ năm 1901, các cuộc hành hương lớn có tính cách toàn quốc được tổ chức và tiếp tục cứ 3 năm một lần, không kể các cuộc hành hương riêng tư, hoặc của các miền, giáo xứ, giáo phận. Đến La Vang tham dự Đại hội Thánh Mẫu, người ta quên hết mọi cảnh hoa lệ đô thành. Họ bất chấp cảnh đi về khó khăn trắc trở. Họ không sợ nắng mưa, cát bụi, họ tự chọn màn trời chiếu đất để nghỉ trú, họ bỏ giày, đi chân không, quỳ giang tay, hôn đất, lần chuỗi cầu nguyện, sốt sắng nhập hàng đi kiệu cung nghinh thánh tượng Mẹ. Họ viếng đàng thánh giá trên những đoạn đường dài cả ngàn thước mà họ không nghĩ đến vất vả, nhọc nhằn trèo đồi xuống dốc… nhất là họ tự động kết thành đợt sóng người đông đảo vô cùng, dồn dập đến với tòa cáo giải, ngày cũng như đêm. Ngoài ra còn có những cuộc hành hương hằng năm tại những nơi Đức Mẹ hiện ra cũng không kém phần sống động: Đức Mẹ Tà pao, Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức Mẹ Măng đen, Đức Mẹ Giang Sơn, Đức Mẹ Cồn Trên - An Giang…

-     Hình ảnh Mẹ La vang luôn gắn liền với lòng sùng kính của người công giáo Việt Nam, nên dù sống ở quê nhà hay ở hải ngoại, họ luôn hướng tấm lòng và cầu khẩn với Mẹ La vang. Có lẽ chính vì thế nhiều nơi trên thế giới, có những Giáo xứ và họ đạo mang tước hiệu Mẹ La vang.

-     Lòng sùng kính đối với Mẹ La vang không chỉ nơi những người công giáo mà còn nơi những người thuộc tôn giáo bạn, họ cũng đi hành hương, dâng hoa, đèn nến và cầu xin  Đức Mẹ. Đến với Mẹ, họ nhận được biết bao ơn lành, dấu chỉ và phép lạ về phần hồn và thuyên giảm bệnh tật về phần xác.

Mẹ La vang đã đi vào tâm hồn của người công giáo Việt Nam cũng như đi vào lòng dân tộc Việt Nam trong sự thăng trầm của lịch sử, và là đấng phù trợ cho dân Chúa trong cơn thử thách. Quả thật, sau hơn 200 năm, kỷ niệm biến cố Mẹ hiện ra ở La vang thì ngày nay lòng sùng kính Mẹ hầu như đã đi vào chiều sâu và nội tâm hóa không chỉ dựa trên những hành động thuần túy tôn giáo về lễ nghi: như đi hành hương, rước kiệu, dâng hoa, cung nghinh … mà với bổn phận đem Chúa và Mẹ vào trong môi trường sống, và theo giá trị tin mừng thôi thúc, noi gương tình yêu của Thiên Chúa đối với cận thân. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên khi lòng mộ mến đó đi đến hành động: “với Mẹ, trong Mẹ, nhờ Mẹ và vì Mẹ” và qua Mẹ đi đến với Chúa Giêsu.

IV. TÓM KẾT:

Câu nói của Thánh Bênađô “nói về Đức Maria thì chẳng bao giờ cùng”, không phải chỉ nói về sự haïn heïp của ngôn từ và hành động khi diễn tả về vai trò, địa vị của Mẹ trong nhiệm cục cứu độ, nhưng vì chúng ta không bao giờ cảm thấy thoả mãn khi tôn vinh, tìm hiểu và mộ mến Mẹ cho đủ. Quả thật, tín lý, tín điều, Thánh Mẫu học, văn hóa nghệ thuật… cũng chỉ có giới hạn trong phạm vi ngôn ngữ, và hình ảnh nhưng tình yêu của người dân Việt Nam đối với Mẹ La vang thì vô tận và không lời lẽ, hành động nào có thể diễn tả hết tấm lòng của tín höõu Việt đối với Mẹ.

Lạy Mẹ La Vang, trong cuộc lữ hành tiến về Nước Trời với biết bao thử thách và cám dỗ, chúng con cảm nhận được Mẹ hằng yêu thương, đồng hành, an ủi đỡ nâng và bảo vệ chúng con, Mẹ dạy chúng con biết năng chạy đến với Chúa bằng tâm tình hiếu thảo, phó thác, nhất là qua tràng chuỗi mân côi, lời kinh đơn sơ, dễ hiểu và sống. Ước chi lòng mến Chúa và yêu Mẹ nơi chúng con được cụ thể hóa qua việc bắt chước Mẹ “biến đời sống chúng ta thành một hành vi thờ phượng, và biến việc thờ phượng thành một hành vi dấn thân” và noi gương các nhân đức của Mẹ: “Trinh nữ lắng nghe và đón nhận Lời Chúa, trinh nữ nguyện cầu và trinh nữ hiến dâng…”.

Xin Mẹ đồng hành với Giáo Hội Việt Nam và từng người công giáo Việt Nam đang thao thức cho một cuộc sống được tôn trọng về phảm giá, tôn trọng công lý, tôn trọng tự do để mọi người được hưởng một nền hòa bình thịnh vượng. Xin Mẹ La Vang giúp Giáo Hội Việt Nam sớm hoàn thành công trình Vương Cung Thánh Đường kính Mẹ đang thi công dang dở. Xin mọi người chung tay góp sức cộng tác với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam lo toan xây dựng Vương Cung thánh đường Đức Mẹ La Vang.

Tháng 12-2014

Bài viết của Linh mục An-tôn Hồ Quang Hải - Giáo phận Ban Mê Thuột



Chủ Nhật, ngày 04 tháng 1 năm 2015

"THẦN BÒ-BOUL"

  Tượng Chúa Hài Ðồng
Ban Nhiều Ơn Lạ
 

  Ðể chuẩn bị cho cuộc thăm viếng Thái Lan của bà Rosalynn Carter, - phu nhân Tổng Thống Hoa Kỳ, - vào đầu tháng 11 năm 1979, Bộ Ngoại Giao và An Ninh Mỹ đã phải âm thầm hoạt động trước nhiều tháng trời.
  Mục tiêu của cuộc viếng thăm này là bà Rosalynn Carter muốn đích thân quan sát tìm hiểu về thảm cảnh tại các Trại Tị Nạn trên đất Thái Lan, điều mà báo chí và các hãng thông tấn, truyền hình... đã nhiều lần tường thuật như là một vết thương đại thảm khốc do cộng sản gây ra cho lịch sử nhân loại vào thời bấy giờ.
 Chắc chắn ông Carter, vị Tổng Thống mà nụ cười luôn luôn đậu trên môi, một lúc nào đó đã phải chau mày, suy tư về thảm họa kinh hoàng của hàng trăm ngàn người đang sống tại các trại tị nạn Ðông Nam Á.  Không một bản tường thuật nào sẽ sống động và thành thật hơn những nhận xét của chính vợ ông, bà Rosalynn.
  Vậy nên nhiệm vụ của 14 người trong “phái đoàn tiền sát” được cử qua Thái Lan đầu tháng 10-1979 thực là quan trọng.  Phái đoàn sẽ đến Thái Lan như những người du lịch, sẽ tìm hiểu và ghi nhận trước tất cả mọi khía cạnh của vấn đề; một bản phúc trình tỉ mỉ về tị nạn sẽ được thiết lập với những nhận xét và đề nghị thật chuẩn xác, để cuộc tới thăm của bà Ðệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ sẽ chỉ là duyệt lại các điều mà bà đã biết từ trước.
  Riêng tôi, một trong 14 nhân viên của phái đoàn tiền sát, tôi hoàn toàn không hay biết mảy may gì về mục tiêu, mục đích của cuộc ra đi này.  Tôi lại cũng mù tịt về mọi lãnh vực ngoại giao và an ninh của Mỹ.  Thế mà tôi lại được đi trong phái đoàn, điều mà chính tôi cũng phải ngạc nhiên.  Trong 14 người, thì 11 là Mỹ chính hiệu “con nai trắng”, còn 3 ngoại kiều là một cô Cam-bốt, một giáo sư  Thái Lan và tôi là Việt Nam.
  Sở dĩ có tên tôi là bởi một sự bất ngờ rất tếu.  Tôi có anh bạn trong “Hội Nhà Thờ Bảo Trợ”, tên John, anh này là cựu sĩ quan, trước từng ở Việt Nam hai năm, làm cố vấn cho đơn vị tôi.  Ngẫu nhiên nay gặp lại nhau, anh rất khoái tôi.
  Thường thường tụi tôi có các buổi họp mặt weekend là có John.  Anh ta cũng ngồi xếp bằng tròn quanh mâm nhậu, bóc lon la-de và nốc một hơi trăm phần trăm y chang như các tay tổ trong băng độc thân vậy.  John nói được một ít tiếng Việt, ăn được nước mắm, khoái món phở tái, chả giò ... và đôi khi chúng tôi nhậu khan với nhau bằng mực khô nướng, củ kiệu, John cũng xáp vô nhai khô mực ra rít lắm.  Bởi cái chỗ thân tình ấy nên tụi tôi coi John như một người bạn chí thiết.  Một lần đang cơn nhậu, John hỏi chúng tôi, ngoài tiếng Mỹ có ai biết nói tiếng Lào không?  Tôi phét lác nhận là nói được và xổ ra một tràng tiếng Lào líu lo líu lường... làm cho cả bọn cười bò.  Thật tình tôi có học được một ít tiếng Lào trong thời gian hành quân Hạ Lào, lâu không nói thì nay cũng đã quên nhiều, nói bậy bạ dỡn chơi thì được, chớ còn phiên dịch thông ngôn thì không nổi.
  Thế mà nửa tháng sau tôi nhận được giấy mời lên Văn phòng Ngoại giao.  Người tiếp tôi chính là John.  Anh ta nói muốn dành cho tôi cơ hội để về thăm miền Ðông Nam Á trong nhiệm vụ tiền sát như đã nói trên.  Tôi thú thật với John tôi quá kém về Lào ngữ.  Nhưng anh ta trấn tĩnh tôi rằng, có một nữ nhân viên Cam-bốt nói tiếng Lào giỏi sẽ giúp tôi, và có thể phái đoàn cần tôi trong nhiệm vụ giao dịch tiếng Việt nữa.
 Chúng tôi đã đến Thái Lan như những du khách, và đã nhờ Hồng Thập Tự địa phương đưa đến các trại Tạm cư Tị nạn.  Hai trại lớn mà chúng tôi đã ở lại nhiều ngày là trại U-thong (phía Tây Bắc cách Bangkok trên 300 dặm) hiện có 36 ngàn người Lào tị nạn; và trại Sa-kaeo nằm trên quốc lộ số 8 cách Bangkok 650 dặm về phía Ðông, chứa tới 200 ngàn dân Căm-bốt tị nạn.
  Có ai tưởng tượng được (vào thời điểm năm 1979) chỉ ở một trại tạm cư thôi mà con số những người tị nạn Căm-bốt đã lớn lao đến thế không?  Hàng trăm ngàn người đó đang sống vô cùng thiếu thốn, đói khổ và bệnh tật, ở chui rúc trong các tàng cây, những lều lá xiêu vẹo mà họ gọi là cái nhà.  Thiếu thực phẩm, thuốc men, quần áo. Một vài hình ảnh khiến ta có thể tưởng như lớp người đó đang sống ở thời thượng cổ, thời đại sống trong hang hốc, ăn lông, ở lỗ.  Sau này khi bà Rosalynn Carter đến viếng thăm đã phải thốt lên:  “Thật quả là thê thảm, những cảnh tượng này tôi chưa hề bao giờ thấy như vậy, đã làm cho tôi xúc động kinh hoàng.”  (“It’s like nothing I ‘ve ever seen, it’s emotionally overwhelming”).
  Nếu muốn viết về chuyến đi Thái Lan  của tôi thì sẽ có một chuyện dài, nhưng tôi không thể đưa lên báo bản phúc trình chỉ dành riêng cho vị Ðệ Nhất Phu Nhân đọc.  Ở đây, tôi muốn kể lại một câu chuyện nhỏ - một kỷ niệm mà mãi mãi tôi không quên.
        
  Buổi chiều hôm đó, sau những giờ đã làm việc khá mệt mỏi, chúng tôi chia nhau bánh mì và thịt hộp để ăn bữa tối,Saleng (cô gái Căm-bốt trong phái đoàn) gọi tôi:
  - Anh có muốn đi coi “Ông Thần Con Nít” không?
  Tôi vừa nhai bánh vừa cười, hỏi đùa: - Có, Ông Thần Con Nít hả?  Vậy Saleng làm ơn bồng ông Thần Bếby ấy tới đây, tụi mình chụp hình phỏng vấn, chớ đi nữa thì... mệt quá rồi.
Saleng nghiêm sắc mặt: - Anh chớ nói dỡn, Thần Con Nít thiêng lắm, Thần đã cứu nhiều người ta và đã đưa họ đến đây tị nạn.      
  Tôi hỏi một hơi: - Sao cô biết? Thần con nít là Ông Thần gì ? ở Ðâu?  Cứu ai?  Chuyện đầu đuôi ra sao?        
  Saleng liếc xéo tôi: - Bộ anh muốn ghi vô biên bản phúc trình hả?  Muốn biết thì đi! Đi tôi dẫn tới cho coi.Tôi uống cạn ly cà phê rồi ngoắc John cùng đi theo.  Chúng tôi lên một ngọn đồi nhỏ, chung quanh toàn là dân di tản Căm-bốt ở chen chúc dưới các lùm cây tàng lá.  Những cảnh sống cơ cực hiện ra trước mắt trong suốt mấy ngày nay đã làm chúng tôi quen rồi.  Các em nhỏ, phần lớn là ở trần truồng, gầy gò, xanh xao và bệnh hoạn.  Các ông già bà cả ngồi trầm lặng như những pho tượng.  Nhiều cặp mắt lo âu nhìn về phía chúng tôi, không biết họ đang nghĩ gì.  Nhưng có điều chắc chắn là nếu ai bảo họ trở lại với quê hương cộng sản của họ thì họ lắc đầu cương quyết phản đối ngay. Saleng dừng lại ở đỉnh đồi nơi có những đá lớn chồng chất trên một tảng đá, tôi thấy có bầy biện như một bàn thờ, cắm nhiều cây nhang, có một cặp nến đỏ viết chữ Miên chằng chịt như đạo bùa.        
  Một bầy trẻ con chừng 20 đứa ốm o đang cầu kinh và ca hát chung quanh.  Vài người lớn thấy chúng tôi, rê lại gần đứng nhìn.  Ðến gần bàn thờ, tôi và John đã ngạc nhiên khi nhận ra vị “Thần Con Nít” mà Saleng đặt tên cho, chính là tượng “Chúa Hài Ðồng nằm trong máng cỏ”.  Tượng bằng thạch cao lớn cỡ bằng quyển tự điển, một góc bị bể nên bàn chân Chúa mất một nửa.        
  Rất tự nhiên, John và tôi cùng qùy gối xuống cạnh những em bé trần truồng.  Chúng tôi làm dấu Thánh Giá.  John hát lên một bài ca Sinh Nhật bằng tiếng Mỹ, tôi cũng ca tiếp bài “Ðêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...”  Cử chỉ cung kính của chúng tôi trước vị Thần Con Nít đã phút chốc gây cảm tình với các em bé và bà con cô bác tị nạn Căm-bốt.  Số đông đã bu lại quanh chúng tôi có tới năm sáu chục người.  Họ nói chuyện ồn ào, và Saleng làm nhiệm vụ thông dịch cho chúng tôi hiểu.  Trong đám đông đó, Saleng dẫn tới giới thiệu với chúng tôi một bà già tên Lam-Pranak và con gái bà, bé Bòboul.  Câu chuyện ly kỳ “Thần Bò-Boul” đã sẩy tới cho hai mẹ con bà, đầu đuôi thế này:        
  Ông Lam-Pranak, vị đại úy thời Lon-Nol, bị Miên cộng hạ sát năm 1975.  Hai đứa con của ông đã bị ném vô lửa trước mắt ông, trước lúc chúng bắn ông.  Vợ ông và 4 đứa con khác trốn về tỉnh Kompong Kdey, một năm sau bị phát giác và cũng bị bắt.  Miên cộng nhốt năm mẹ con bà Pranak cùng với khoảng 400 người khác thuộc “chế độ cũ” trong một Nhà Thờ Chánh Tòa đổ nát ở tỉnh nhỏ Khum Samrong.  Chính tại nơi đó, con gái út của bà, em bé Bòboul, đã tìm thấy tượng Chúa Giêsu Hài Ðồng nằm trong máng cỏ.  Thoạt đầu, em chỉ thấy đẹp và muốn giữ chơi như một búp-bê.  Nhưng rồi bà mẹ em đã nghiệm thấy dường như có một uy quyền, một phép lạ nào đó ẩn tàng trong Búp-bê Thần này.  Cứ mỗi lần Bòboul bị đau ốm, mà em được ôm lấy Búp-bê Thần thì em liền được khỏi bịnh. Rồi nhiều em nhỏ khác bị nhốt trong Nhà Thờ đau ốm cũng đã được ơn cứu chữa ấy.  Chí đến các người lớn bệnh hoạn cũng đã được khỏi khi cầu xin Búp-bê Thần; và lòng sùng kính tôn thờ tự nhiên dâng lên.  Trước con mắt nhòm ngó dữ dằn của bọn lính Miên cộng, những người tù khốn khổ trong Nhà Thờ đã không dám lập nên một bàn Thờ cho Vị “Chúa Con Nít” của họ.  Ðền đài của Chúa Giêsu Hài Ðồng nơi đây chính là cái túi vải rách rưới đeo trên lưng em bé Bòboul, một đứa trẻ gầy gò bẩn thỉu.  Ðến nỗi chính danh hiệu cao cả của Chúa cũng chẳng ai biết nữa.  Ðoàn người tù tội đã dùng ngay tên em bé để gọi Chúa Hài Ðồng, bây giờ tên Ngài là “Thần Bòboul”.        
  Nhiều đêm, cửa Nhà Thờ mở ra, những họng súng chĩa vào, vài tên Miên cộng thò đầu vô gọi tên một số người.  Những người bị gọi đi trong đêm sẽ không bao giờ trở lại.  Họ đến quỳ gối bên em bé Bòboul, hôn tượng Chúa Hài Ðồng:
  - Lậy Thần của Bòboul, bây giờ con sắp đi vào cõi chết, con muốn khi chết đi được Thần của Bòboul thương con, đem con về cõi Trời với Thần! Cầu nguyện xong, họ hôn em Bòboul và vĩnh biệt ra đi, trong khi đó Bòboul vẫn ngủ say sưa không biết gì cả.  Số tù nhân vô tội vơi xuống lần lần.        
  Một đêm nọ, bà Pranak bị gọi tên.  Bà choáng người như bị sét đánh, gọi cả bốn con dậy, mẹ con ôm lấy nhau khóc mướt rồi bà cầu nguyện:
  - Lậy Thần của Bòboul, xin cứu con, xin cho con được sống với bốn đứa nhỏ này, cha nó đã bị bắn, hai anh nó đã bị đốt lửa; xin Thần hãy cứu con để chúng nó còn có mẹ, và để mẹ con chúng con suốt đời thờ lạy Thần. Bà hôn các con rồi ra đi trong đêm tối theo lũ Miên cộng...
  Chừng hơn tiếng đồng hồ sau, cánh cửa hậu Nhà Thờ bỗng hé mở.  Bà Pranak len lén bò vào.  Bà thì thào với các con: - Mẹ và nhiều người bị đẩy xuống một cái hố, tụi nó xả súng bắn càn rồi lấp đất lên, và bỏ đi.  Mẹ không bị trúng đạn, moi đất chui lên được về đây với các con.  Ðúng là Thần của Bòboul đã cứu mẹ! Năm mẹ con lại ôm nhau khóc... và tạ ơn Thần.
- Việc bà thoát chết, mò mẫm đêm khuya trở lại Nhà Thờ (đúng ra là nhà tù), cũng như việc lính gác ngủ vùi và cửa Nhà Thờ hé mở, cho đến bây giờ, bà Pranak vẫn không hiểu tại sao được như vậy. Bà chỉ một mực tin rằng đó chính là Thần Bò-Boul ra ơn cứu mạng.        
  Ngày chế độ Pol-Pot bị lật đổ, bọn lính canh tù trước khi tháo chạy đã thảy đại vô Nhà Thờ 3 trái lựu đạn.  Bé Bòboul thất kinh, cầm tượng giơ ra ngăn cản.  Lạ thay, cả 3 qủa đạn đều tịt ngòi lăn long lóc trên nền Nhà Thờ.  Một người trong toán tù đã liều mình nhặt vứt ra ngoài.  Khi qủa lựu đạn cuối cùng ném ra khỏi cửa sổ, cả 3 đã phát nổ dữ dội khoét thủng một lỗ ở chân tường, và do đó đoàn tù đã thoát ra rồi tản mát, mạnh ai nấy chạy trốn vượt biên giới qua Thái Lan tị nạn. Bé Bòboul lạc gia đình, một mình chạy nhủi ở trong rừng, hết lòng cầu xin, hai ngày sau thì gặp lại được mẹ và anh em như cũ.         
  Khi năm mẹ con đắt díu nhau vượt biên tại Ban Nong Pru chính là chỗ quân đội hai bên đang canh phòng ghìm nhau rất cẩn mật.  Bé Bòboul cầm tượng Chúa đi trước dẫn đầu cho gia đình đi ngang qua hai trạm lính canh gác, lạ thay, thấy lính Miên cộng và lính gác Thái đều ôm súng ngủ khì.  Câu chuyện thuật lại như khôi hài và hoang đường vậy.         
  John tỏ ra đặc biệt chú trọng đến mọi chi tiết của câu chuyện. Anh hỏi và Saleng thông ngôn:
  - Cho đến nay, Chúa Hài Ðồng còn tiếp tục làm phép lạ không?
  Bà Pranak trả lời: - Không! không phải phép lạ, Thần của Bòboul không làm phép ra lửa, ra ánh sáng đâu.  Thần chỉ cứu người thôi.  Ai cầu xin Thần sẽ được, nhưng phải ở hiền, ở tốt, đừng có dữ dằn, ai yêu thương người ta, Thần của Bòboul mới cho ơn.  Thần còn cho ơn nhiều nhiều, phải tin Thần thì mới được chứ!.    
  Tôi ngạc nhiên đến sững sờ nhìn bà Pranak, có phải bà vừa đọc một đoạn Thánh Kinh nào đó cho tôi nghe không?  Tôi nhìn kỹ mặt bà, gương mặt cằn cỗi xám xịt, hàm răng vàng khè, cặp mắt đục và mệt mỏi.  Bà quê kệch, xấu xí và rách rưới, nhưng tâm hồn bà dường như tràn ngập niềm tin và sự vui mừng.        
  Bốn đứa nhỏ của bà cùng với lũ trẻ tị nạn khác đang xúm quanh John nhai kẹo cao-su.  John nhờ Saleng giảng dịch cho chúng hiểu sơ lược về Chúa Cứu Thế, mà bức tượng của Bòboul chính là Thánh tượng Ngài.  Thật mà nói, tôi thấy lũ nhỏ chăm chú vào việc nhai kẹo nhiều hơn là lắng nghe câu chuyện Thánh Sử.        
  Khi chúng tôi từ biệt bà con tị nạn để về lều, John chưa kịp nói Good Night thì một thanh niên chạy tới rối rít lên: - Ðem Thần của Bòboul tới mau, xin cứu vợ tôi, nó sắp đẻ rồi, chẳng có cô mụ bác sĩ gì ráo, khéo nó chết mất!  Lạy Thần, xin  cho vợ con của con được sống.      
  Tượng Chúa Hài Ðồng được rước đi tức khắc.  Chúng tôi cũng cấp tốc trở về lều.  Khi John trở lại với một bác sĩ thì mọi sự đã xong.  Một em bé tị nạn đã sinh ra bằng yên,  Người sản phụ đang thiu thiu ngủ, và người chồng đang quỳ dưới đất chắp tay lạy Chúa Hài Ðồng như tế sao.
        
  Bà Rosalynn Carter, sau này khi đến thăm trại, đã bồng đứa bé đó trên tay và ứa lệ nói rằng:  “I want to go home as fast as I can and mobilize people and do all we can to help the people here”.  [Tôi muốn trở về Mỹ càng sớm càng tốt để vận động dân chúng làm tất cả những gì chúng ta có thể làm được để giúp dân chúng nơi đây.]
                             
  Trần Quốc Bảo                                               
  Richmond,VA/USA

Thứ Tư, ngày 31 tháng 12 năm 2014

KẾT TOÁN NĂM CŨ BƯỚC SANG NĂM MỚI



Lm. Ðaminh Nguyễn ngọc Long
Sau lễ mừng Chúa Giesu giáng sinh ngày 25.12. là tiếp đến ngày cuối năm dương lịch. Năm 2014 kết thúc, nhường khoảng không gian cho thời gian năm mới 2015 tiến vào.
Dịp cuối năm chúng ta tự hỏi, năm 2014 đã sống trải qua như thế nào?
 
Các phương tiện truyền thông vào những ngày cuối năm thuật lại những biến cố sự việc tốt xấu đã xảy ra trong năm qua trước mắt chúng ta bằng hình ảnh, bằng âm thanh.
Những tin tức hình ảnh về cảnh chiến tranh loạn lạc, những tai nạn thiên nhiên, cảnh nghèo đói, bệnh tật cùng những khủng hoảng khắp nơi trên thế giới.
Không chỉ mặt tiêu cực được trình chiếu thuật lại, mà cả những biến cố tích cực cũng được lựa chọn nói đến nữa, như những cố gắng xây dựng hòa bình, cho dù không phải luôn luôn đạt được thành công, biến cố bóng đá Word Cup 2014 ở Brazil, thỏa thuận ngưng bắn giữa Do thái và Palestina về dải Gaza, ngưng bắn ở vùng phía Ðông Ukraina...
Ðức giáo hoàng Phanxico có lẽ là người trong đạo Công giáo được nói đến nhiều hơn cả, và nhất là Thượng hội đồng Giám mục thế giới ngoại lệ về gia đình và hôn nhân tháng 10. ở Roma, chuyến viến thăm Quốc Hội Âu Châu ở Strassburg, chuyến viếng thăm Thổ nhĩ Kỳ tháng 10. vừa qua.
Và còn nhiều biến cố khác nữa. Nhưng có nhiều biến cố sự việc xảy ra nằm trong chu vi vùng chúng ta sinh sống. Những biến cố này có liên quan nhiều cùng chặt chẽ với đời sống chúng ta hơn. Chúng ta nhớ lại năm đã qua dù là biến cố chung hay riêng tư, chúng cũng mang sắc thái một bên là bóng tối che khuất, và một bên là mặt có ánh sáng.
Nhớ lại những biến cố  xảy ra trong đời sống mình, mỗi người ai cũng có tâm trạng vui, vì những thành công, may mắn . Nhưng cũng có tâm trạng buồn, hối tiếc, vì thất bại, những điều không may mắn, nhất là bệnh tật đau yếu. Dẫu vậy, là điều tốt nhớ lại tất cả và trong yên lặng suy nghĩ lại.
Như Ðức Mẹ Maria, sau khi đã sống trải qua những biến cố, những kỷ niệm về sự sinh ra của Chúa Giesu con mình trong hoàn cảnh nghèo khổ thiếu thốn, đã yên lặng gìn giữ suy nghĩ trong tâm hồn.
Suy nghĩ lại có khi cũng là phương thuốc tốt cho chữa trị. Vì suy nghĩ nhớ lại mới có thời giờ nhìn kỹ hơn và phân biệt chính xác hơn. Ðể rồi có thể hiểu phân biệt rõ hơn, và rút ra kinh nghiệm bài học qúy báu cho đời sống. Và  từ đó có thể cầu xin Chúa sự tha thứ cho những thiếu xót đã hành động, cùng tạ ơn Ngài vì những gì đã nhận lãnh được.
Ngạn ngữ dân gian có suy tư: "ai suy nghĩ, người đó có khả năng cám ơn". Và người Phi châu có suy tư khôn ngoan:" Chỉ người biết cám ơn, người đó có tương lai". Vì thế, lời cầu xin, lễ nghi kính thờ Thiên Chúa ngày cuối năm là lời kinh tạ ơn.
Mỗi người có những lý do cám Thiên Chúa về những ân đức, cơ hội tốt thuận tiện trong thời gian năm cũ đã nhận lãnh được.
Như những người buôn bán vào cuối năm họ thường kiểm điểm rà soát lại sổ sách kho hàng xem hàng hóa, việc thu nhập thế nào. Mỗi người chúng ta cũng nhìn lại đời sống mình đã xảy ra như thế nào với những khả năng, thời giờ , cơ hội mà mình có...Kiểm điểm lại thấy có những việc, những điều mình làm đúng. Nhưng cũng có những sai phạm, những bỏ lỡ , những hối tiếc, thất vọng, và động thời có hy vọng cùng tin tưởng vào thời gian tương lai.
Như người buôn bán luôn tìm cách bán đi hành hóa đã mua về, đừng để chúng nằm mãi ở trên kệ hàng. Có thế cửa hàng mới chạy đều "buôn may bán tốt". Chúng ta cũng có trách nhiệm trao tặng cho đi, những gì tốt đẹp mà mình đã lãnh nhận. Khả năng ân đức tốt đẹp nhất qúi báu nhất, mà ta lãnh nhận là tình yêu thương, không bao giờ được mãi nằm trên kệ riêng của ta. Nhưng khả năng ân đức đó phải tìm được địa chỉ người đang cần đến.
Ngày cuối năm 2014 nhìn lại, ta thấy không phải tất cả đều tốt đẹp, nhưng đó là sự yếu kém, mặt thiếu xót của con người. Và vì thế con người luôn phải dựa tìm đến lòng thương xót của Chúa cho đời sống mình.
Ngày cuối năm 2014 nhìn lại, chúng ta cũng nhận ra mặt sáng của đời sống đã trải qua. Ðó là những kết qủa tốt đẹp. Nhưng chúng ta cũng nhận ra rằng không phải do tự mình làm ra, tuy có cố gắng của ta góp phần vào,  mà được ban cho. Vì thế cũng không quên nói lên tâm tình lời tạ ơn Thiên Chúa.
Chúng ta bước đi vào thời gian năm mới 2015 với niềm vui mừng hy vọng và cùng với tư lự do dự nghi nan.Vì chúng ta không biết thời gian tương lai sẽ như thế nào.
Chúng ta đặt ra chương trình cho thời gian năm mới, viễn tượng hướng về ngày mai với niều tự tin và hy vọng. Nhưng tất cả vẫn chưa rõ ràng khi thực hiện sẽ ra như thế nào.
Quan trọng là giữa vững lòng can đảm trong mọi hoàn cảnh. Dẫu thế nào kinh nghiệm trong thời gian qúa khứ sẽ giúp ta nhiều cho bước đường thời gian tương lai đang tới.
Người tín hữu Chúa Kito được nhìn về đàng trước với lòng can đảm, và đừng bao giờ quên rằng: Thiên Chúa không bỏ rơi ta một mình.
Câu chuyện của Trung Hoa kể lại về tâm tình tin tưởng: " Tôi nói với Thiên Thần đang đứng nơi ngưỡng cửa năm mới: Xin ngài cho tôi chút ánh sáng, để tôi có thể bước đi vững vàng vào thời gian vô định năm mới. Nhưng Thiên Thần trả lời: Bạn hãy bước đi vào vùng tối tăm và hãy đặt tay Bạn vào bàn tay Thiên Chúa. Ðiều đó tốt hơn là ánh sáng và con đường quen thuộc."
Chúng ta là người hành khất. Người hành khất bước vào năm mới vô định với tâm trạng vừa hoài nghi lo sợ vừa tin tưởng đợi chờ. Nhưng trên đường đi và nơi cuối đường đi, người hành khất nhận ra rõ hơn họ không đi một mình. 

Chúc mừng năm mới Dương lịch 2015
 

CÓ CHÚA CÙNG ĐI


Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long


Bước vào năm mới 2015 một đàng với tâm hồn phấn khởi, với những ước mơ dự định, và một đàng với tâm trạng hoàn toàn bỡ ngỡ, vì chưa biết thời gian năm mới sẽ như thế nào. Có thể ví như một cuốn sổ còn mới, hoàn toàn trắng chưa có dòng chữ nào in viết trong đó.
Trong năm mới 2015 chúng ta sẽ sống trải qua nhiều hoàn cảnh thuận tiện, và cũng nhiều sự việc gây căng thẳng lo âu suy nghĩ.
Bước vào năm mới với nhiều bất định. Vì thời gian trong năm sẽ có nhiều bước đường, hoàn cảnh không mấy thuận tiện tốt đẹp đang chờ chúng ta. Nhưng ai biết được những điều đó?
Hình ảnh người bộ hành đi đường xa thường đeo mang trên vai chiếc túi balo với những dụng cụ đồ dùng cần thiết khi đi đường cũng là hình ảnh con người chúng ta bước đi vào năm mới.
Tìm trong túi balo người bộ hành có chiếc đèn pin. Nhưng khi ấn bật đèn không có ánh sáng phát tỏa ra. Như thế một là đèn bị hư, hay là những cục pin hết năng lượng. Ðâu là ý nghĩa hình ảnh chiếc đèn pin cho đời sống năm mới?
Không phải luôn luôn lúc nào chúng ta cũng có thể nhìn thấy rõ đường đi phía đàng trước. Có thể trong năm mới có những quyết định quan trọng đến với ta. Ai là người có thể cố vấn bàn góp ý kiến cho ta? Ai giúp ta để ta không bị vướng vấp vào trong bóng tối  bối rối hoài nghi?
Một cuốn sổ ghi chú nhiều việc, nhiều điều cần phải nhớ đến để làm theo thứ tự thời giờ cùng ngày tháng. Nhất là các bạn trẻ còn đang đi học, còn trong trường cao đẳng đại học, họ có nhiều ghi chú về bài tập, bài học, bài nghiên cứu trong cuốn sổ phảỉ học, phải viết bài thi.
Những ghi chú  đó tuy là những việc nhỏ, nhưng lại cần thiết. Ðời sống trong năm tháng ngày giờ cũng vậy, dù là người trẻ hay người lớn cũng đề phải sẵn sàng với hoàn cảnh mới xảy đến và sẵn sàng bắt tay vào thực hành theo yêu cầu đòi hỏi. Cho dù rất nhiều khi phải cố gắng nỗ lực, có khi còn khó chịu quặn đau nữa trong dạ dày tim óc…
Trong túi balo còn có chiếc điện thoại di động để liên lạc. Nhưng khi bấm nút mở máy, chiếc điện thoại không hiển thị lên. Một là nó hết năng lượng, hai là quên cho Passwort vào, ba là thiếu hay Sim Card đã hết hạn. Và như thế là không thế liên lạc gọi cho ai được.
Cũng vậy trong thời gian đời sống năm mới, ai chúng ta cũng muốn sự tốt thông cảm hiểu nhau. Nhưng nhiều khi lại không xảy đến như lòng mong muốn. Vì sự hiểu lầm nhau, sự tranh cãi giữa nhau, đến nỗi đường giây liên lạc bị đứt quãng, làm cho không còn có thể nói chuyện với nhau trong bình an được.
Và trong túi balo còn có một hòn đá to nữa. Hòn đá này vừa to vừa nặng. Ðây cũng là hình ảnh những khi tâm tư bị đè nặng do những lo âu khó khăn, thất vọng, thất bại chồng chất xảy đến. Những " hòn đá" vô hình đó làm cho tinh thần lẫn thế xác ra uể oải khó chịu.
Nói kể ra như thế không phải để làm cho đời sống năm mới bị bôi đen thành hoảng sợ. Không, không phải như thế. Vì dẫu sao thời gian nào, dù cũ hay mới đâu phải chỉ có những tiêu cực, những đòi hỏi gánh nặng, mà còn có những tích cực, những tốt đẹp nữa, mặc dù không phải ngày nào cũng có mặt trời chiếu sáng nóng ấm. Ðây là điều không thể quên được, và là điều tốt thôi.
Nơi mỗi khởi đầu cũng thường ẩn chứa sự bí ẩn nhiệm mầu. Vì không ai biết trước được những gì sẽ diễn ra như thế nào. Vì thế, mỗi khi bắt đầu việc mới hay đi đâu xa, cha mẹ thường chúc lành cho con cháu mình được bằng an, gặp may mắn thành công.
Khởi đầu bước đường xuất hành trở về quê hương đất Do Thái từ Ai Cập, Thánh Tiên Tri Maisen đã chúc phúc lành cho dân Israel, như lời Thiên Chúa truyền dậy:
" Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành gìn giữ anh em. Xin Người ghé mắt nhìn anh em và ban bình an cho anh em!" ( Ds 6,224-26)
Khởi đầu bước đi vào năm mới với niềm vui phấn khởi, nhưng cũng có lo âu, vì không biết trong năm mới sẽ xảy ra như thế nào cho chúng ta.
Trước hoàn cành đó, chúng ta cần bàn tay, cần lan can bám vịn vào, cần ánh sáng soi đường để bước đi. Với chúng ta, bàn tay đó, lan can đó, ánh sáng đó là Thiên Chúa tình yêu.
Chúng ta tin rằng mình không đi vào năm mới một mình. Nhưng có Chúa cùng đi với.
Ngài là chúc lành, là người cùng đồng hành trong đời sống hôm qua, hôm nay và ngày mai.

Chúc mừng năm mới Dương lịch 2015

Thứ Tư, ngày 24 tháng 12 năm 2014

SINH RA Ở BETHLEHEM



Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
 
 
Hằng năm vào ngày 25.12. Giáo hội Công giáo mừng lễ sinh nhật Chúa Giêsu. Lễ mừng sinh nhật Chúa Giêsu mang sâu đậm ý
nghĩa lễ mừng tôn giáo của đạo Công giáo. Nhưng trong dòng thời gian lễ này ngày càng trở thành ngày lễ mừng mang chiều kích văn hóa xã hội, nhất là về khía cạnh kinh tế thương mại.
 

 
Theo Kinh thánh thuật lại Chúa Giêsu sinh ra ở Bethlehem bên nước Do Thái. Nhưng không nói tới thời gian năm tháng nào rõ rệt. Vì thế, người ta khảo cứu đi tìm hiểu xem biến cố Chúa Giêsu sinh ra trong lịch sử như thế nào, vào thời điểm nào, và những chi tiết chung quanh sự sinh ra của Chúa Giêsu ẩn chứa sứ điệp gì.
 
1. Vị cứu tinh ra đời
 
Theo Phúc âm Thánh Luca (2,1):  „Thời ấy Hoàng đế Augustus ra chiếu chỉ truyền kiểm tra dân số khắp cả thiên hạ.“
 
1.1. Mốc điểm lịch sử
 
Thánh Luca khởi đầu bài tường thuật việc Chúa Giêsu sinh ra bằng mốc thời điểm lịch sử thời hoàng đế Augustus với chiếu chỉ của ông. Như thế với Thánh sử Luca mối liên quan trong bi cảnh lịch sử toàn thế giới chiếm phần quan trọng.
 
Lần đầu tiên chiếu chỉ hoàng đế bao trùm toàn cầu, một cao trào đại kết trong toàn thể địa cầu được nói đến. Và cũng lần đầu tiên một chính phủ, một vương quốc bao trùm trái đất được nêu lên. Và lần đầu tiên một không gian hòa bình được nói đến. Và như thế một ngôn ngữ chung hoàn cầu trên phương diện thông hiểu nhau cho một xã hội văn hóa nảy sinh ra.
 
Trong bầu khí như thế một vị cứu tinh chung cho toàn địa cầu có thể xuất hiện đi vào trong trần gian: Thời gian đã viên mãn tròn đầy.
 
1. 2. Hoàng đế Augustus
 
Hoàng đế Augustus của đế quốc Roma, một vị vua đầu tiên của Roma. Ông tên tht là Gaius Octavius, sau những tranh chấp nội bộ, Ông đã thng cuộc và lên làm hoàng đế sau khi Caesar bị ám sát năm 44 trước Chúa Giáng sinh. Ông không chỉ là một chính trị gia, nhưng còn hiện thân là một khuôn mặt với chiều kích thần học tôn giáo.
 
Ông lên ngôi hoàng đế năm 31. trước Chúa giáng sinh và trị vì trên ngai hoàng đế tới năm 14. sau Chúa giáng sinh. Ông thành lập triều đại hoàng đế ở Roma, và là hoàng đế một mình toàn quyền thống trị đế quốc Roma thời đó trải rộng khắp Âu châu và sang vùng Trung Đông, Tiểu Á.
 
Năm 27. trước Chúa giáng sinh, Ông được Thượng viện Roma trao phong cho tên là  Augustus, theo tiếng Hylạp là Sebastos, có nghĩa là „ người được tôn thờ“.
 
Theo bản văn còn lưu lại ở thành phố cổ Priene vào trước thời Chúa giáng sinh, hoàng đế Augustus được tung hô danh hiệu là vị cứu thế. Với Hoàng đế Augustus một thời đại mới bắt đầu.
 
Trong thời triều đại của Ông nền hoà bình trong đế quốc được xây dựng lan rộng củng cố. Vì thế có danh hiệu Pax Augusti.
 
Chúa Giêsu, vị cứu tinh từ trời cao chào đời đi vào trần gian bắt đầu một thời đại mới, thời đại hòa bình.
 
Chúa Giêsu xuất hiện trước công chúng, như trong phúc âm Thánh Luca thuật lại (3,1), không phải là một nhân vật thần thoại sinh ra và xuất hiện trên sân khấu thế giới. Ngài đến trong trần gian vào một mốc điểm thời gian cụ thể, và vào một nơi chốn không gian địa lý chính xác. Nơi Ngài là Ngôi lời - Logos- mang ý nghĩa sáng tạo của mọi sự, đã đi vào đời sống trần gian. Ngôi Lời vĩnh cửu đã trở thành người xác thịt trong thời gian cùng nơi chốn hình thể địa lý.
 
1.3. Chiếu chỉ trong khắp thiên hạ
 
Chiếu chỉ truyền trong khắp thiên hạ phải về quê quán của mình khai tên vào sổ bộ nộp thuế của hoàng đế Augustus đã khiến Thánh Giuse và Đức mẹ Maria phải trở về thành Bethlehem, là quê quán cũ của Ông Giuse, thành này là thành quê hương của Vua David. Sự việc này đã khiến lời loan báo trong sách Tiên Tri Micha được hiện thực ứng nghiệm, nơi Bethlehem vị mục tử sẽ sinh ra chăn dắt Israel ´.( Mika 5, 1-3.).
 
Vô tình hoàng đế Augustus, không biết đến lời tiên tri này, đã cùng cộng tác vào việc làm cho lời đoan hứa của Thiên Chúa qua ngôn sứ Micha được thực hiện hoàn thành: Lịch sử của đế quốc Roma rộng lớn khắp thiên hạ và lịch sử ơn cứu độ, mà Thiên Chúa hứa cho dân Israel, trùng hợp với nhau. Thiên Chúa của Israel và của toàn thể mọi dân tộc hoàn cầu tỏ mình ra là người chính thực điều khiển toàn thể lịch sử hoàn cầu.
 
2. Sinh ra ở Bethlehem
 
Theo chiếu chỉ hoàng đế Augustus, bởi thế, Ông Giuse từ thành Nazareth, miền Galilea lên thành Vua David tức thành Bethlehem, miền Giudea. Vì Ông thuộc dòng tộc vua David. Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, đặt nằm trong máng cỏ. Vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ. (Lc 2, 4-7).
 
Theo phúc âm Thánh Mattheo (13,57) và Thánh Luca (4,26) nói đến quê hương của Chúa Giêsu là thành Nazareth, và thành Bethlehem là nơi sinh ra của Chúa Giêsu  (Mt. 2,1 và Lc 2,4-7). Phúc âm Thánh Gioan cũng nói đến Bethlehem là nơi sinh ra của Chúa Giêsu (Ga 7,42). Nhưng ở thành Bethlehem nào, miền Nam hay miền Bắc nước Do Thái?
 
Lễ Chúa giáng sinh 2012 hai tờ báo  tiếng Anh Times và Telegraph đã nói đến lịch sử nơi sinh ra của Chúa Giêsu như phúc âm Thánh Mattheo thuật lại ở thành Bethlehem. Nhưng cho rằng không phải Bethlehem ở miền Nam gần thành Giêrusalem miền Judea, mà là Bethlehem ở miền Bắc thuộc miền xứ Galileo cách Nazareth khoảng 11 cây số.
 
Những bài báo tin tức mới lạ sôi nổi này căn cứ dựa trên bài tường thuật qua công trình khảo cứu của nhà khảo cổ học người Do Thái tên là Aharon Oshri ở vùng Galilea, miền bắc nước Do Thái.
 
Theo nghiên cứu khảo cổ, năm 1906 một Cộng đoàn tín hữu Tin lành đã xây một đền thờ ở ngôi làng của người Ả Rập Beit Lah.m ,và vùng định cư mới này được đổi tên là Bethlehem. Nhưng từ 1948 vùng này lại đổi tên là Moschaw Beit Leh,m ha -Gelilit. Vì thế Ông cho là Chúa Giêsu đã sinh ra ở thành Bethlehem miền Bắc Do Thái thuộc vùng Galilea.
 
Ở miền Nam nước Do Thái miền Judea có thành phố Bethlehem, theo sách Giosua (19,15) nằm trong vùng phần đất quê hương cùa chi tộc Sebulon. Vì thế, rất có thể khi viết Phúc âm nói đến tên Bethlehem, Thánh sử Mattheo đã viết rõ là Bethlehem phía Nam thuộc miền Judea để phân biệt với Behtlehem phía Bắc thuộc miền Galilea.
 
Oshi đưa ra luận cứ qủa quyết Chúa Giêsu không sinh ra ở Bethlehem miền Nam nước Do Thái thuộc vùng Judea. Vì Bethlehem nơi đây vào khoảng thế kỷ 7.- 4. trước Chúa giáng sinh, là vùng hoang vu không có người sinh sống.
 
Nhưng giả thuyết về nơi sinh của Chúa Giêsu ở thành Bethlehem miền Bắc nước Do Thái thuộc vùng Galileo không được mấy nhà khảo cổ nghiên cứu chú ý đến nữa.
 
Sau thời kỳ lưu đày bên Babylon, dân Israel trở về quê quán cũ thành Giêrusalem và các thành thị chung quanh Gierusalem ở miền Nam nước Do Thái, có nói đến tên thành Bethlehem ở miền Nam - Sách Esra (2,21) và sách Nehemia (7,26).
 
Các sách Phúc âm tường thuật lịch sử sự sinh ra của Chúa Giêsu ngay từ thời thế kỷ thứ nhất cũng đã nói đến Bethlehem là vùng có dân cư đến sinh sống.
 
Sử gia Josephus nói đến Bethlehem miền nam vùng Judea cách xa Gierusalem độ 20 dặm. Vào năm 150 sau Chúa giáng sinh Justin, người gốc Paletina cùng hiểu biết về địa lý trong vùng, cũng qủa quyết Bethlehem nằm trong vùng Judea cách Giêrusalem 35 dặm.
 
Vào khoảng gần cuối thế kỷ thứ ba sau Chúa giáng sinh, Origenes cũng khẳng định Behtlehem là nơi có dân cư sinh sống.
 
Những công trình nghiên cứu khảo cổ về địa chất cũng cho thấy từ thế kỷ thứ 4. sau Chúa giáng sinh, ở Bethlehem thuộc vùng Judea có công trình xây cất lại những tàn tích đổ nát thời ngày trước.
 
Như thế không có bằng chứng khả tín qủa quyết rằng Bethlehem thuộc vùng Judea miền nam nước Do Thái vào thời Chúa Giêsu là vùng sa mạc hoang vắng không có người định cư.
 
3. Chúa Giêsu chào đời                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 
 
Cùng với Thánh Giuse tới Bethlehem để khai tên vào sổ bộ thuế, đức mẹ Maria tời ngày sinh con. Mẹ sinh con đầu lòng, lấy tã bọc con và đặt nằm trong máng cỏ.Vì Thánh Giuse và mẹ Maria không tìm được chỗ nhà trọ trú thân. (Lc 2, 17).
 
Như thế, Chúa Giêsu sinh ra dọc đường không ở trong một ngôi nhà, mà trong hang chuồng thú vật. Khung cảnh này nhắc nhớ đến cuộc đời Chúa Giêsu sau này được thuật lại trong Kinh Thánh viết về ngài:
 
Thánh sử Gioan trong phần mở đầu Phúc âm đã viết: „Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận“. (Ga 1,11).
 
Thánh sử Mattheo ghi lại chính Lời Chúa Giêsu nói về đời sống của mình: „Con chồn có hang, chim có tổ, nhưng Con Ngưpời không có chỗ tựa đầu.“ (Mt 8,20).
 
Và sau cùng Chúa Giêsu bị xử tử đóng đinh thên thập gía chết bên ngoài thành  (Dt 13,12). như Ngài đã sinh ra đến trong trần gian ở bên ngoài thành.
 
3.1. Hang chuồng xúc vật
 
Một em bé sinh ra không trong nơi chốn nhà cửa, không có gì che thân gợi lên sự  thương tâm cùng mức độ nghèo nàn. Nhưng cũng loan truyền đi gía trị được thể hiện nơi đời sống và sứ điệp của Chúa Giesu. Ngay từ lúc sinh ra, Chúa Giêsu không nằm trong phạm vi của giầu sang và quyền thế sức mạnh trong dân gian cho đó là quan trọng. Nhưng ngược lại sự nghèo hèn yếu kém không sức mạnh quyền thế, không quan trọng lại chính là sứ điệp về sức mạnh chính thực cho đời sống. Đó là gía trị tinh thần.
 
Sau khi mở mắt chào đời, hài nhi Giêsu được mẹ người quấn bọc tã và đặt nằm trong máng cỏ.
 
Theo Thánh tử đạo Justin hồi thế kỷ thứ hai năm 165 sau Chúa Giáng sinh, và Thánh Origenes thế kỷ thứ ba năm 254 sau Chúa giáng sinh, nơi chốn sinh ra của Chúa Giêsu là một hang động cho xúc vật ở. Và dựa theo thuật lại ở chính nơi địa phương đó, đền thờ Chúa giáng sinh ở Bethlehem được xây dựng trên nền hang động đó.
 
3.2. Máng đựng thức ăn cho xúc vật
 
Thánh giáo phụ Augustino đã có suy tư về chiếc máng cỏ trong hang đá Chúa Giêsu sinh ra chất chứa hình ảnh mang sâu đậm ý nghĩa thần học.
 
Máng trong hang chuồng xúc vật dùng để chứa đựng thức ăn ẩm thực phẩm rơm cỏ hay hoa trái cho xúc vật ăn. Nhưng máng trong chang chuồng xúc vật nơi Chúa Giêsu sinh ra, lại là cái nôi cái giường cho trẻ thơ Giêsu nằm, Đấng đó sau này đã qủa quyết chính Ngài là bánh, là lương thực từ trời cao xuống cho con người trên trần gian. Ngài là lương thực mang lại sự sống tinh thần cho con người.
 
Máng chứa lương thực là hình ảnh diễn tả về bàn tiệc của Chúa mời gọi mọi người đến đón nhận tấm bánh Thánh Thể.
 
Khung cảnh nghèo hèn thô sơ sự sinh ra của Chúa Giêsu theo mắt con người nhìn vào, nhưng lại diễn tả sự to lớn ẩn chứa ơn cứu chuộc cho con người. 
 
Phúc âm không nói đến những con thú vật trong hang chuồng nơi hài nhi Giêsu sinh ra. Nhưng dựa theo Kinh Thánh Cựu và Tân ước đã nói đến hai con thú vật Bò và Lừa trong hang chuồng lúc Chúa sinh ra: Con Bò biết đến chủ của nó và con Lừa biết đến máng cỏ của chủ nó. Nhưng Israel không biết đến, dân Ta chẳng hiểu biết gì. (Isaia 1,3a.)
 
Trên đường về đất nước Chúa hứa ho dân Israel, trên mặt Hòm Bia Giao ước của Thiên Chúa có hai tượng Cherube được đúc dựng trên đó. Hình ảnh này nói lên sự hiện diện đầy huyền bí nhiệm mầu của Thiên Chúa. Cũng vậy, máng cỏ Chúa Giêsu nằm tựa giống như Hòm Bia Giao ước Thiên Chúa, ẩn chứa sự mầu nhiệm của Thiên Chúa hiện diện giữa con người, và con Bò và Lừa, chúng là đại diện cho nhân loại Dân Do Thái và mọi lương dân, cùng nói lên thời giờ nhận biết Thiên Chúa đã đến.
 
Trong khung cảnh nghèo hèn khiêm hạ giữa máng đựng rơm cỏ thức ăn cho xúc vật có sự hiện diện của hai con vật Bò và Lừa, Thiên Chua hài nhi Giêsu đã tiếp đón những vị học giả , mà ta quen gọi là ba Vua, từ Phương Đông tìm kiếm đến bái kiến Vua Giêsu mới sinh ra.
 
Nghệ thuật thánh Kitô giáo ngay đã sớm nhận ra hình ảnh này làm chủ đề khi vẽ hay làm hang đá Chúa sinh ra. Và vì thế hai con Bò và con Lừa không thể thiếu trong hang chuồng Chúa Giêsu giáng sinh.  
 
3.3 Con đầu lòng.
 
Phúc âm viết : Mẹ Maria sinh con trai đầu lòng.( Lc 2,7.)
 
Con đầu lòng phúc âm nói ở đây không nhất thiết là người con thứ nhất theo thứ tự. Nhưng mang nội dung ý nghĩa chiều kích thần học, theo như lề luật Do Thái: „Thiên Chúa nói với Maisen: hãy cắt nghĩa cho dân rằng mọi con đầu lòng phải thánh hiến cho Ta, mọi con đầu lòng sinh ra trong dân Israel dù là người hay thú vật đều thuộc về Ta.“ (Xh 13,1). „Mọi con đầu lòng của loài người trong số con cái ngươi , thì sẽ được chuộc lại.“ (Xh 13,13).
Như thế chữ đầu lòng mang ý nghĩa đặc biệt nói về sự thuộc về Thiên Chúa của Chúa Giêsu.
 
Thánh Phaolo nói về ý nghĩa con đầu lòng Chúa Giêsu khai triển theo hai nấc bậc trong chiều hướng thần học. Trong thư gửi Giáo đoàn Roma Thánh Phaolo gọi Chúa Giêsu là „trưởng tử giữa đàn em đông đúc“ ( Rm 8,29). Khi sống lại, theo cung cách mới,  Ngài là người đầu lòng, và đồng thời là khởi đầu một đoàn các anh em. Nơi sự sinh ra mới này do sự sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu không chỉ theo chức vị nhân phẩm là người thứ nhất, nhưng Ngài đã khai mở một nhân loại mới. Ngài đã vượt qua bẻ gảy phá cánh cửa sự chết. Trong bí tích Rửa tội người tín hữu cùng chết với Chúa Giêsu và cùng với Ngài sống lại.
 
Trong thư gửi Giáo đoàn Colosseo, Thánh Phaolo đã gọi Chúa Giesu là con đầu lòng của toàn thể công trình sáng tạo, và là con đầu lòng của người sống lại từ cõi chết và trong toàn thể. (Closse 1, 15-18)
 
Và từ ngữ „con đầu lòng“ chứa đựng chiều kích ý nghĩa hoàn vũ. Chúa Giêsu Kito, Đấng đã trở thành người con trai trên trần gian, có thể nói được đó là ý tưởng đầu tiên của Thiên Chúa, và ý tưởng khởi đầu này có trước công trình tạo dựng, cùng là ý tưởng quy hướng về Chúa Giêsu. Ngài là khởi đầu và đích điểm của sáng tạo mới bắt đầu từ sự phục sinh sống lại của Ngài.      
 
***********************
Chúa Giêsu là con Thiên Chúa xuống trần gian làm người như bao con người trên trần gian, như trong kinh tin kính tuyên xưng: „ Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng trinh nữa Maria, và đã làm người.“.
 
Như thế, Ngài không phải là một nhân vật thần thoại nào. Ngài sinh ra đời có cha mẹ là đức mẹ Maria và Thánh Giuse, trên quê hương nước Do Thái, trong khung cảnh thời điểm lịch sử thời đế quốc Roma cai trị toàn dân thiên hạ.
 
Ngài là con Thiên Chúa xuống trần gian mang ân đức của Thiên Chúa cho con người. Nên sự sinh ra của Ngài cũng loan báo một sứ điệp cho con người trần gian. Sứ điệp đó khởi đầu với đời sống khiêm nhượng khó nghèo.
 
Không phải uy lực sức mạnh quyền thế, nhưng sự khiêm nhượng nghèo hèn làm cho đời sống có gía trị, như Chúa Giêsu sau này đã rao giảng: „Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó.“ 
 
 
****************
 
Lấy cảm hứng từ :
 
1. Joseph Ratzinger, Benedickt XVI., JESUS von Nazareth, Prolog die Kindheitsgeschichten,  Herder Freiburg i. Br. 2012., 3. Kapitel Die Geburt Jesu in Bethlehem, S. 69- 81.
2. Zu Bethlehem geboren ? Das Jesus-Buch Benedickt XVI. und die Wissenschaft, Thomas Soeding Hg. - „Gedeutete, konzentriete Geschichte“ Herder Freiburg i. Br. 2013.i, S. 104 - 109.
3. Herders theologischer Kommentar zum neuen Testamant. Heinz, Schürmann, Das Lukasevangelium  1,1- 9,50, Sonderausgabe, Fr. i. Br. 1984, S. 97- 107.


CHIA SẺ: BÀI MỚI

GIÁO HỘI: BÀI MỚI

MẸ MARIA - THÁNH GIUSE - CÁC THÁNH: BÀI MỚI

VĂN HÓA: BÀI MỚI

DI CẢO LM. J.H

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Affiliate Network Reviews