Thứ Ba, ngày 14 tháng 10 năm 2014

CẠO GIÓ



Trong các năm qua tôi đã từng chữa bệnh cho hằng trăm người và đoán bệnh ít khi sai. Thí dụ một người bị tiêu chảy suốt 3 năm đi khám bác sĩ tại nhiều nhà thương khác nhau và uống bao nhiêu thuốc nhưng không khỏi. 


CẢM LẠNH VÀ CÁC HẬU QỦA BIẾN CHỨNG.
Cảm lạnh là một một bệnh rất thông thường. Nhưng ngoại trừ một số dấu chỉ quen thuộc như sổ mùi, tịt mũi, nhức đầu, người gai gai sốt, khó chịu ai cũng biết, cảm lạnh thường khiến cho nhiều cơ phận khác bị suy yếu và gây ra một số bệnh, mà các bác sĩ tây y và cả đông y cũng không khám ra, không biết lý do tại sao, vì không có các vết nội thương ngoại thương, cũng không có vi khuẩn và không có cơ phận nào bị hư hỏng. Tuy không biết là bệnh gì nhưng các bác sĩ vẫn cho thuốc, thường là thuốc giảm đau, càng uống càng không khỏi, lâu ngày bị mất trí nhớ, loét bao tử, hư thận và khiến cho hệ thống thần kinh bị tê liệt. Cảm lạnh thường gây đau nhức tứ chi mình mẩy đến tê bại không cử động được, nên có bác sĩ cho là hệ thần kinh bị hư và để nghị giải phẫu...

I. Lý do
1. Trời mưa, trời gió hay trời lạnh mà mặc không đủ ấm, đầu không đội mũ, chân không đi giầy, không mang tất ấm, cổ không quấn khăn vv... vì thế các cơ phận thuộc bộ máy hô hấp (mũi, miệng, cổ họng, phổi... ) và tuần hoàn (tim, dạ dầy, ruột, gan, thận, lá lách...) bị lạnh. Khí âm xâm nhập nhiều qúa làm mất thế quân bình trong cơ thể, gây bế tắc kinh mạch, và suy yếu các cơ phận.
2. Ngồi trúng chỗ có luồng gió (ở tư gia, trong nhà thờ, nhà hội có mở cửa trước cửa sau, hay cửa ngang hông, trong xe mở cửa kính hay máy lạnh qúa vv... ) có thể đưa đến chỗ bị cảm.
3. Đặc biệt tại những vùng sáng sớm và ban chiều trời lạnh, nhưng ban trưa trời nóng (điển hình như California, Texas... ), có rất nhiều người bị cảm lạnh, vì không để ý, mặc không đủ ấm khi đi làm ban sáng và về nhà lúc chiều tối. Cứ thế, khí âm nhập vào người mỗi ngày một chút, và từ từ khiến cho cơ thể bị suy nhược và sinh ra nhiều triệu chứng mà không biết là bệnh gì.


II. Một số triệu chứng thông thường dễ nhận ra
1. Các triệu chứng bình thường dễ nhận ra:
1) Sổ mũi, tịt mũi
2) Nhức đầu, nặng đầu
3) Ho
4) Cảm thấy người vừa nóng vừa lạnh: hơi sốt hay sốt nặng (khi có vi khuẩn gọi là bệnh cúm)
5) Bần thần, mỏi mệt trong người.
2. Nhưng chính vì khí âm xâm nhập thân thể, khiến bế tắc kinh mạch, máu huyết và làm suy yếu các cơ phận hô hấp và tuần hoàn, nên cảm lạnh làm nảy sinh ra nhiều triệu chứng, mà cả các bác sĩ cũng không biết và không ngờ tới.
1) Trằn trọc, khó ngủ ban đêm
2) Ngủ không thẳng giấc, đi tiểu lắp nhắp ban đêm, hay bị chuột rút
3) Đổ mồ hôi ban đêm
4) Đầy bụng, khó tiêu
5) Nhất là đau và nhức mỏi trong người: đặc biệt là hai cánh tay, cổ, bả vai, sống lưng, đầu gối, hai chân và hai bắp chân.
6) Nhiều khi có cảm tưởng như bị đau nhức thần kinh hay từ trong xương, đến độ bị bại xuội, cổ không quay được, không giơ hay co tay chân lên được, không cúi xuống được hay không thể mặc và cài cúc áo quần vv....
- Đi khám bác sĩ, chụp phim thì không có cơ phận nào bị hư hại hay tật bệnh gì. Các bác sĩ chỉ biết cho thuốc giảm đau, bệnh nhân có cảm tưởng giảm đau nhức, nhưng càng uống càng tệ hại thêm, vì người ngày càng bần thần, mỏi mệt và đau nhức hơn. Thuốc giảm đau, thuốc ngủ sinh ra bệnh mất trí nhớ, đau bao tử và đau thận...
7) Tức ngực, nhói ngực, khó thở, hụt hơi
8) Nghẹt tim, tim hồi hộp, ngộp thở, hay có cảm tưởng bị bệnh tim
9) Khó tiêu, táo bón, nặng bụng, ở chua
10) Đau bụng lâm râm
11) Tiêu chảy
12) Đau tức bên hông phải trên vùng gan,
13) Đau tức bên hông trái trên vùng lá lách
14) Teo tĩnh động mạch trên đầu (dẫn tới chỗ đau đầu và bị tai biến mạch máu não vì lượng hồng huyết cầu và dưỡng khí không lưu thông đủ để nuôi óc)
15) Da mặt xanh xao, tái mét hay thâm, và người lúc nào cũng cảm thấy bần thần, mệt mỏi như mất hết sức lực, chán nản, buồn sầu, chỉ muốn đi nằm, không muốn làm gì, và không làm được gì, vì người lúc nào cũng mệt mỏi.
- Đi khám bác sĩ, thử máu, thử phân, thử nước tiểu, chiếu điện, thì không tìm ra bệnh gì, và ai cũng bảo là bệnh giả đò.
16) Trẻ em bị cảm lạnh thì khó ngủ, hay ói sữa, biếng ăn, táo bón (hai ba ngày mới đi một lần, mà phải dùng thuốc, phân hôi...), tiêu chảy, hay khóc quấy, da không trắng và hồng hào nhưng tái mét, khi khóc thì tím ngắt mặt mũi chân tay và không dỗ được.
- Tất cả các triệu chứng trên đây đều có thể do cảm lạnh mà ra, đặc biệt các trường hợp đau nhức số 5, trường hợp số 15 và số 16 là dấu chứng đã bị cảm lạnh từ rất lâu, chứ không phải các cơ phận bị hư hại.
- Khi bị cảm lạnh, phần nào trong cơ thể yếu thì phần đó thường dễ bị ảnh hưởng.
- Có nhiều người bị cảm lạnh hàng chục năm mà không biết, đi khám hết mọi bác sĩ tại mọi nhà thương nổi tiếng và uống biết bao nhiêu thứ thuốc, mà vẫn không khỏi bệnh. Và các bác sĩ vẫn không biết chính xác là bệnh gì, kể cả các bác sĩ dông y và châm cứu. Đây là các trường hợp bị đau nhức (số 5) và người mất sắc, bần thần, kiệt sức (số 15) và trẻ em (số 16).

III. Cách chữa
Có nhiều cách chữa
1. Bình thường có thể cạo gió.
1) Cách cạo:
- Dùng đồng bạc hay tốt nhất là cái thìa lớn (nếu bằng bạc nguyên chất càng tốt) cạo gió bằng dầu nóng (bất cứ loại nào cũng được) nhưng tốt nhất là long não pha với dầu ô liu,
- Tỳ mạnh đồng bạc sát xuống da,
- Cạo chậm rãi và kéo đường càng dài càng tốt,
- Như thế sẽ ít đau và không trầy da.
2) Chỗ cạo: khắp nơi trên người.
- Cạo: cổ, gáy, trán, trên đầu, hai thái dương, bả vai, bên trong bên ngoài hai cánh tay, mu bàn tay, ngón tay, lưng, ngực, bụng, bụng dưới, mông, bên trong bên ngoài đùi, chân, bắp vế và mu bàn chân, ngón chân.
3) Cạo gió rất khoa học nhưng ông bà cha mẹ chúng ta không giải thích nên mình không hiểu. Thật ra:
- cạo gió là đả thông kinh mạch để cho khí huyết lưu thông đều đặn trở lại
- tái lập thế quân bình cho cơ thể
- dầu nóng tăng khí dương,
- đồng bạc hay cái thìa, tức chất kim khí, rút khí âm trong người ra.
Cạo gió xong là tự nhiên hết các triệu chứng kể trên và khỏi bệnh, thường là ngay tức khắc.
- Chỉ khi bị cảm (cảm nắng cũng như cảm gió và cảm lạnh) cạo da mới đỏ hay có hột và bầm tím nếu bị cảm nặng từ lâu. Càng bị cảm lâu càng bầm. Nhưng chỉ vài hôm sau là các vết đỏ và bầm sẽ biến đi.
Vì thế nói cạo gió vỡ mạch máu da là không đúng.  Ngày nay nhiều bác sĩ Mỹ cũng bắt đầu tin, vì người ta đã cạo ngay trước mặt cho bác sĩ thấy.
- Tuy nhiên vì sống tại Tây Âu có nhiều người không quen hay chưa cạo gió bao giờ, nên sợ đau hay sợ bị dị nghị, mà quên đi hay khinh thường cách chữa bệnh rất hữu hiệu này của ông bà cha mẹ.
4) Cách pha long não với dầu ô liu:
- 100 gr bột long não nguyên chất đã tán sẵn mua ở tiệm thuốc bắc (không phải long não bỏ quần áo hay giết gián)
- pha với 1 lít dầu ô liu (dầu trộn sà lát loại nào cũng đựợc)
- bình thường các tiệm thuốc bắc bán bịch 1 pound long não (10 US$), thì pha với 1 galon dầu ôliu, rồi chia nhau.
- Dầu ô liu pha với long não còn có thể dùng để thoa bóp, chữa trặc hay sưng chân tay và thấp khớp rất công hiệu.
2. Xông với nước lá
- nấu một nồi nước lớn với lá sả, lá cây dầu khuynh diệp, lá chanh, lá cam, lá quít, lá bưởi hay ngải cứu vv...
- trước khi trùm chăn xông trong phòng kín gió, thì bỏ thêm 10-20 gr bột long não, nếu có (thường tiệm thuốc bắc có bán bịch lá xông có thêm gói bột long não nhỏ)
- xông xong, lau mồ hôi khô, và mặc quần áo ấm ngay rồi uống vài viên thuốc cảm với nước trà gừng nóng, đắp chăn nằm nghỉ hay ngủ được một giấc, sẽ thấy người khỏe ngay.
Vì khi xông chảy mồ hôi nhiều nên cơ thể mất nhiều muối đạm, do đó cần phải cẩn thận, kiêng ra ngoài, để đừng bị lạnh trở lại.
3. Đánh cảm bằng cám rang
- lấy cám bỏ vào chảo rang nóng lên
- bỏ vào miếng vải túm lại
- rồi vuốt từ trên đỉnh đầu vuống xuống
- vuốt khắp nơi trong người: đầu tóc, mặt, ngực, bụng, cơ quan sinh dục, lưng, mông, đàng trước đàng sau tay chân, lòng bàn tay bàn chân và ngón tay ngón chân...
Cảm nặng thì phải rang 2, 3 mẻ và vuốt vài lần sẽ đỡ ngay, vì mọi kinh mạch đều được đả thông và khí huyết di chuyển bình thường trở lại.
4. Đánh cảm bằng gừng
- 100 gr gừng giã dập
- túm vào một chiếc khăn hay vải mỏng
- nhúng vào một bát rượu mạnh (rượu đế, volka vv...)
- vuốt từ đỉnh đầu xuống cả người phía trước: mặt mũi, ngực, bả vai, cánh tay bên trong bên ngoài, lòng và mu bàn tay, rồi các ngón tay, bụng, bắp vế xuống cho tới lòng và mu bàn chân và các ngón chân, phía sau: đầu, ót, gáy, lưng, mông xuống cho tới lòng bàn chân và các ngón chân.
5. Đánh cảm bằng trứng gà và đồng bạc nguyên chất (pure silver coin)
- luộc 5-7 trứng gà chín lên (18 phút thì trứng chín), luôn để nước sôi
- bóc vỏ, bổ đôi, bỏ lòng đỏ
- nhét đồng bạc nguyên chất vào giữa
- túm vào khăn hơi dầy một chút để khỏi bị xước da
- rồi cứ thế vuốt từ trên đỉnh đầu xuống y như đánh cảm bằng cám và gừng
- vuốt cho tới khi nào trứng hoàn toàn nguội mới thay trứng và thay đồng bạc khác.
Nếu bị cảm nắng, thì đồng bạc mầu đồng.
Nếu bị cảm lạnh, thì đồng bạc mầu đen, càng cảm lạnh nặng càng đen.
Nếu bị cảm gió nữa thì đồng bạc mầu đen nhánh có sắc xanh. Nếu vừa cảm nắng vừa cảm lạnh, thì đồng bạc có cả hai mầu.
1) Tùy trường hợp nặng nhẹ, có thể đánh từ 4 trứng trở lên. Bình thường mỗi lần đánh khoảng 4-5 trứng là được. Để tránh bị lạnh trở có thể đánh đầu, ngực và lưng trước, rồi mặc áo, che khăn hay đắp chăn, sau đó mới đánh tới phần dưới của cơ thể. Nếu muốn đánh một lần cho cả phía trước hay phía sau, thì lấy chăn đắp phần thân thể đã đánh rồi hay chưa đánh.
2) Đặc biệt là trường hợp 5 và nhất là 15, có khi phải đánh tới 40-50 hay hàng trăm cái trứng. Nghĩa là đánh làm nhiều lần, cho tới khi nào cảm thấy người dễ chịu, khỏe khoắn, da dẻ hồng hào trở lại thì thôi.
3) Trẻ em bị cảm (đặc biêt các em nhỏ) chỉ nên đánh cảm bằng trứng. Trường hợp các em được vài tháng, nếu sợ bỏng da, có thể đánh cảm bên ngoài áo cũng được. Nhưng nếu bọc trứng trong một khăn dầy vừa đủ sễ không sao.
4) Cũng có thể để nguyên vỏ trứng, để có nhiều sức nóng hơn, nhưng phải dùng loại khăn rửa mặt hơi dầy, để khỏi bị vỏ trứng làm xước da.
5) Đánh cảm bằng trứng hơi tanh. Nhưng sau đó không được tắm. Chỉ nên dùng lotion hay chút dầu thơm pha chút nước nóng, nhúng khăn lau sơ người thôi.
6) Đặc biệt trường hợp số 15 và khi bị thương hàn, tức cảm lạnh ngấm tới xương, thì phải đánh cảm bằng trứng và đồng bạc (vì cạo gió, bấm huyệt thoa bóp chỉ bớt chứ không khỏi).
7) Đồng bạc bị đen bỏ vào một cái chén bên dưới lót một miếng giấy bạc rồi đổ nước sôi lên, đồng bạc sẽ trắng trở lại ngay và dùng để đánh tiếp.
Cách mua hay đặt đồng bạc đánh cảm:
1) Ai có thân nhân nhân ở Việt Nam có thể nhờ họ đặt cho mươi đồng bạc đánh cảm tại các tiệm bán vàng bạc (mỗi đồng khoảng 4-5 US$ làm hình bầu dục theo hình trái trứng là tiện nhất, vừa dùng để đánh cảm, vừa dùng để cạo gió rất tốt)
2) Dễ nhất là vào Internet để mua và trả qua credit card ngay tại Mỹ. Họ sẽ gửi tới tận nhà. Mấy gia đình chung nhau, vì mỗi bộ (mỗi set) có 20 đồng 1 dollar lớn và dầy. Đồng 1 dollar lớn này có thể đánh được 2-3 trứng mới đen hết đồng bạc.
Silver Rounds Medaillon ** 999 Pure Silver One Ounce 34.50 US$
htttp://www.goldmastersusa.com/silver coins.asp
6. Giác, lẩy (thường phức tạp hơn, vì cần có bộ đồ nghề và không công hiệu bằng các cách kể trên, vì chỉ hạn chế vào một số nơi có bắp thịt).
- Giác bằng alcool hay rượu mạnh, nếu không khéo có thể bị bỏng da.
- Giác bằng hơi tránh được ngy hiểm này, nhưng phải có bộ đồ nghề.
- Nếu biết lẩy có thể nặn máu bầm ra, nhưng phải cẩn thận để không bị nhiễm trùng.

IV. Phòng bệnh hơn chữa bệnh.Vì cảm lạnh có thể gây ra các hệ lụy nguy hại tới các cơ phận trong người như thế nên chúng ta phải cẩn thận.
1. Luôn mặc ấm áp khi đi làm hay đi lễ ban sáng và về nhà lúc chiếu tối
2. Đầu đội mũ, trùm khăn
3. Giữ hai vai, vùng thận và chân ấm (đi vớ, cả khi ở trong nhà)
4. Khi có các triệu chứng kể trên, cứ áp dụng mấy cách chữa bệnh trên đây của ông bà cha mẹ, trước khi đi khám bác sĩ.
Trong các năm qua tôi đã từng chữa bệnh cho hằng trăm người và đoán bệnh ít khi sai. Thí dụ một người bị tiêu chảy suốt 3 năm đi khám bác sĩ tại nhiều nhà thương khác nhau và uống bao nhiêu thuốc nhưng không khỏi. Các bác sĩ không tìm ra lý do. Sau khi cạo gió bụng, lưng và ngực, bệnh tiêu chảy dứt ngay. Một người khác ăn lương tàn tật 2 năm vì không thể giơ hai tay lên được và đau nhức không thể lái xe được. Đi khám tại nhiều nhà thương nhưng các bác sĩ không biết bệnh gì, chỉ cho uống thuốc giảm đau và đoán là thần kinh bị hư nên đề nghị mổ. Sau khi cạo gió hai cánh tay và lưng xong là hết đau nhức và hai tay cử động bình thường ngay lập tức. Một người khác nữa bị đau đầu gối 3 tháng, đi khám các bác sĩ, chiếu điện nhiều lần cũng như uống nhiều thứ thuốc, mà không hết đau nhức. Bác sĩ nói thần kinh bị hư, phải mổ. Cạo gió mấy phút là hết đau nhức ngay.
Thế mới biết rất nhiều trường hợp đau nhức là do cảm lạnh. Vì vậy trước khi đi bác sĩ hay vào nhà thương, chúng ta nên áp dụng cách chữa bệnh của ông bà cha mẹ, vừa dễ dàng, vừa rẻ tiền lại rất khoa học và công hiệu tức khắc, giúp giữ gìn sức khỏe và nhất là khỏi bị tàn tật oan.
Roma 9-1-2011

LM Giuse Hoàng Minh Thắng Roma

Thứ Tư, ngày 08 tháng 10 năm 2014

HIỀN HÒA VÀ THANH BẦN

Từ 13-5 tới 13-10-1917, Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ chăn cừu (Lúcia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto) tại làng Fátima (Bồ Đào Nha) và đưa ra ba Mệnh Lệnh. Một trong ba mệnh lệnh đó là: “Canh tân đời sống”. Nghĩa là phải bỏ lối sống cũ xấu xa mà thực hiện lối sống mới tốt lành hơn. Chắc chắn ai cũng cần cải thiện đời sống, cải thiện càng sớm càng tốt, vì ai cũng là kẻ xấu, là tội nhân: “Không có ai nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa” (Mc 10:18). Vả lại, chính Chúa Giêsu đã gọi chúng ta là kẻ xấu: “Nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao? (Lc 11:13).

HIỀN HÒA

Hiền hòa là hiền lành, hiền từ, hiền hậu. Hiền lành là mối phúc thứ nhì trong Tám Mối Phúc (Bát Phúc): “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5:3). Ngược với hiền lành là gây hấn, hung dữ, tà tâm.

Hiền hòa cũng là một nhân đức, và có liên quan nhân đức khiêm nhường. Cả hai nhân đức này rất quan trọng, như những viên đá góc tường cần thiết trong tòa nhà nhân đức và đời sống. Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã có lần khuyến khích: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11:29). Lời khuyến khích này cũng là lời cảnh báo. Cuối cùng, ai “học thuộc lòng” và thực hành được hai nhân đức này sẽ “được nghỉ ngơi bồi dưỡng” trong Đức Giêsu Kitô. Đó là hệ lụy tất yếu vậy!

Khi đặt chúng ta vào cuộc đời, Chúa Giêsu cũng đã dạy chúng ta “phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10:16). Người hiền lành thì luôn có tâm hồn đơn sơ, sống chân thật, không ích kỷ, không tìm tư lợi, nhưng sẵn sàng quên mình, biết dấn thân và biết sống vì người khác. Đó là quyết tâm khiêm nhường của Ngôn sứ Gioan: “Người [Chúa Giêsu] phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3:30).

Về cách sống hiền hòa, Joubert đã khuyến cáo: “Hãy hiền dịu khoan dung với hết mọi người, trừ bản thân mình”. Cao thượng biết bao! Điều đó có nghĩa là đừng khó với người khác, mà hãy khó với chính mình. Dù cũng chỉ là phàm nhân như chúng ta mà ông còn biết sống như vậy thì thật đáng khâm phục. Hiền hòa cũng có phần nào liên quan nhịn nhục và chịu đựng, đó là biết vui vẻ chấp nhận sự thua thiệt, hiền lành và chịu thua thiệt chứ không là nhu nhược.

Ngược lại, hiền lành lại chính là sức mạnh, bởi vì chẳng có ai chống lại người hiền lành. Người hiền lành không tách rời khỏi cái tổng thể, chính cái toàn thể đó là sức mạnh không gì có thể chống lại. Tiền nhân nói: “No mất ngon, giận mất khôn”. Thật chí lý, bởi vì “tảo cấp tắc bại sự” (nóng tính thì hỏng việc), đồng thời đó cũng là tự hại mình.

Người hiền lành là người khôn ngoan. Nói về người vợ đảm đang, sách Châm Ngôn nói: “Nàng khôn ngoan trong lời ăn tiếng nói và dịu hiền khi dạy dỗ bảo ban” (Cn 31:26). Kinh Thánh nói về phụ nữ, nhưng cũng là nói về mọi người, chẳng trừ ai. Hiền lành phải phát xuất từ thâm tâm, không thể giả bộ. Nếu không thật lòng thì có lúc cũng lộ chân tướng, như chiếc kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra vậy. Kinh Thánh đã dẫn chứng: “Những bà mẹ vốn dịu hiền âu yếm lại đang tay nấu thịt con mình, biến chúng thành của ăn” (Ac 4:10). Chất đồng thau không bao giờ có thể hóa thành vàng được!

Tác giả nữ Stef Penney đã viết cuốn “The Tenderness of Wolves” (Sự Hiền Hoà Của Sói – dịch giả: Diệp Minh Tâm, NXB Văn Hóa Saigon). Sách kể về một vụ giết người bí ẩn diễn ra tại Canada vào thế kỷ 19, khắc họa bức chân dung về dòng người nhập cư tới vùng bắc Ontario, thuộc Canada. Đó là vùng đất lạnh lẽo và khắc nghiệt, chấp chới giữa lằn ranh sinh – tử (sống – chết). Có những điều bí ẩn, mưu mô, mê đắm, dũng cảm, xấu xa, đầy kịch tính trong sự sinh tồn giữa vùng đất mênh mông và xa lạ đó. Tác giả Penney tạo ra những nhân vật, người ta tin là thật, từ các yếu tố rời rạc nhau trong một bối cảnh lịch sử để làm sáng tỏ những bí ẩn, cũ cũng như mới. Điều đó cho thấy sự hiền hòa rất cần thiết trong cuộc sống.

Thánh Phaolô cũng động viên chúng ta: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà, rộng rãi, Chúa đã gần đến” (Pl 4:4-5). Lời mời gọi này cũng là lời cảnh tỉnh chúng ta phải mau chấn chỉnh cách sống trong thời gian Thiên Chúa còn chờ đợi vì thương xót.

Thời gian là lúc Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi chúng ta ăn năn sám hối. Nếu còn cứng lòng, đó là chúng ta lợi dụng lòng thương xót của Ngài. Kitô hữu nào cũng biết chắc rằng “Thiên Chúa giàu lòng nhân hậu” (Tv 62:13) và Ngài luôn “nhân hậu đối với kẻ khó nghèo” (Tv 68:11). Nhưng không thể thấy vậy rồi chúng ta không mau sớm canh tân đời sống, cứ tưởng chủ chưa về, cứ tưởng chàng rể đến chậm, để rồi chủ về bất ngờ và chàng rể đến sớm. Lúc đó, không ai có thể kịp xoay xở, vì Đèn Đức Tin lu mờ, Dầu Yêu Mến cũng chẳng còn đủ mà thắp sáng. Tất cả đã muộn rồi!

THANH BẦN

Thanh bần là nghèo khó hoặc khó nghèo – chứ đừng “khó (mà) nghèo”. Nghèo khó trái ngược với giàu sang, thịnh vượng. Nghèo khó còn gọi là nghèo khổ – vì nghèo mà khổ, hai trạng thái thường đi đôi với nhau.

Chúa Giêsu luôn “chạnh lòng thương” người nghèo khổ. Thiên Chúa coi nghèo khó là nhân đức, Ngài đặt nghèo khó mối phúc thứ nhất trong Tám Mối Phúc: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:2). Chúa Giêsu không nói suông, chính Ngài đã nêu gương sống nghèo cả đời: Sinh ra trong cảnh nghèo là Hang Belem, sống nghèo khó với Đức Mẹ Maria và Đức Thánh Giuse, ba năm rong ruổi khắp nơi trong hoàn cảnh nghèo khó, chịu chết nghèo khó trên Thập Giá. Chúa Giêsu đúng là Đệ Nhất Hàn Vương, dù là Vua nhưng Ngài còn nghèo hơn cả những người nghèo nhất trên thế gian này.

Thánh Phanxicô Assisi, vị lập Dòng Anh Em Hèn Mọn (OFM, Ordo Fratum Minorum), đã noi gương sống nghèo như Thầy Giêsu, nghèo đúng nghĩa theo nghĩa đen chứ không hề “bóng gió” chi cả. Giáo hoàng đương nhiệm là một tu sĩ Dòng Tên, nhưng lại “khoái” tinh thần nghèo của Thánh Phanxicô, nên ngài đã chọn Tông hiệu là Phanxicô, và ngài cũng đang thể hiện “phong cách nghèo” một cách rõ nét.

Trong kinh “Chúc Tụng Các Nhân Đức” (Lobpreis der Tugenden), Thánh Phanxicô viết: “Đức nghèo khó làm cho tất cả tính tham lam của cải, tính hà tiện nhỏ nhoi và những lo lắng thế sự đời này phải bẽ mặt xấu hổ. Thái độ sống khiêm hạ nhu mì sẽ làm cho tính kiêu căng tự cao tự đại và tính ngạo mạn của thế gian phải bẽ bàng xấu hổ”. Tinh thần khiêm nhường, hiền hòa và nghèo khó của Thánh Phanxicô rõ nét trong “Kinh Hòa Bình”, một kinh nguyện bất hủ vì giàu chất nhân đức.

Chúa Giêsu là “vị vua nghèo”, Thánh Phanxicô có thể coi là “hoàng tử nghèo”, còn Giáo hoàng Phanxicô cũng có thể coi là “đại ca nghèo” – vì ngài đã có tinh thần nghèo khó từ khi còn là giám mục ở Argentina. Không ai muốn “bị” nghèo nhưng cái nghèo lại được đề cao. Nghèo khó là một trong ba lời khấn chính của các tu sĩ: Vâng lời, Nghèo khó, Khiết tịnh (Thanh tuân, Thanh bần, Thanh khiết). Phải thể hiện thật chứ không thể giả bộ hoặc chỉ nói suông!

Người nghèo nói chẳng ai nghe, còn người giàu nói gì cũng được người khác nghe, vì “miệng nhà giàu có gang, có thép”. Đó là “phong cách thế tục”, còn đối với Thiên Chúa thì không như vậy, mà hoàn toàn trái ngược. Thật vậy, đối với người nghèo, chúng ta phải thông cảm và chia sẻ, không được coi thường, vì họ cũng là con người với đầy đủ nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền – đặc biệt là vì họ cũng là con cái của Thiên Chúa. Thật vậy, “tất cả đều là anh em với nhau” (Mt 23:8).

Văn hào Victor Hugo (1802–1885, Pháp) đã nhận xét: “Ba vấn đề lớn nhất của thế kỷ này: sự tha hóa của người đàn ông trong nghèo khổ, sự khuất phục của người phụ nữ bởi cơn đói, sự teo mòn của trẻ nhỏ vì bóng tối”. Ông nhận xét về thời đại của ông – thế kỷ XIX, nhưng nhận xét đó vẫn đúng trong thời đại của chúng ta ngày nay – thế kỷ XXI.

Đúng là Chúa Giêsu nói rằng “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Ngài chú trọng “tinh thần nghèo khó”, đừng để lòng “dính líu” tới của cải vật chất ngay khi ngồi trên đống vàng, chứ Ngài không khuyến khích người ta cam chịu nghèo nàn và khổ sở. Người ta có thể viện vào cớ đó để ung dung hưởng thụ. Thực tế cho thấy rõ người ta nói rất hay, nói đâu ra đấy, nói nghe có vẻ “thanh thoát” lắm, nhưng cuộc sống người ta lại chẳng “nghèo” chút nào! Chúa Giêsu không chỉ sống “tinh thần nghèo khó” mà Ngài còn sống nghèo khó đúng theo nghĩa đen. Chúng ta cảm thấy thế nào?

Các tu sĩ Phật giáo có thói quen hay là dùng cách tự xưng “bần tăng”. Rất tốt. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở “danh xưng” thì cũng chẳng có gì đáng nói. Tuy nhiên, ít ra cũng là cái để người ta phải “kiềm chế” cho xứng với chức vị của mình. Người có tâm hồn nghèo khó thì vui thích sống tinh thần nghèo khó, và cũng chẳng ngại thể hiện lối sống nghèo khó. Chuyện kể rằng…

Tại tu viện kia có hai thầy dòng nổi tiếng là nhân đức, nhất là về lòng khiêm tốn và kiên nhẫn. Hai thầy chung sống trong một căn nhà nhỏ bé, lo việc cầu nguyện, chăm sóc vườn rau và vườn cây ăn trái. Hai thầy chuyên cần làm việc, đào mương dẫn nước, chăm sóc kỹ lưỡng, thế nên vườn tược lúc nào cũng xanh tươi và cành cây nặng trĩu những trái ngon quả ngọt, nhờ vậy mà có cái để chia sẻ với các thầy ở các tu viện khác. Không chỉ có vườn cây xanh tốt mà còn không thiếu những khóm hoa đẹp, lúc nào cũng tươi nở muôn màu muôn sắc dành để dâng tiến Chúa trong nhà nguyện của tu viện.

Tiếng thơm nhân đức của hai thầy đã đến tai cha bề trên đã cao niên. Một hôm, cha quyết định tới thăm hai thầy để có dịp chứng kiến tận mắt những nhân đức thánh thiện của hai thầy. Vừa trông thấy bóng dáng cha bề trên, hai thầy vội vàng ra cửa đón tiếp một cách vui vẻ, thân tình. Sau mấy phút cầu nguyện trong nhà nguyện, cha bề trên ngỏ ý muốn đi thăm ruộng vườn. Hai thầy vui vẻ dẫn cha bề trên đi xem khắp vườn và chỉ cho thấy từng loại cây ăn trái, từng luống rau, từng khóm hoa,… Cha bề trên vừa bước đi vừa nhăn nhó, tỏ vẻ khó chịu, rồi trách khéo là vườn quá đẹp đối với những kẻ tu hành. Rồi cha bề trên lại dùng cây gậy chống trên tay mà đập vào những cây bắp cải, cây rau xà lách và những bụi hoa gần hai bên lối đi. Trước cử chỉ khác lạ xem như điên rồ của cha bề trên, hai thầy vẫn giữ thinh lặng, không tỏ vẻ hoặc nói lời phản ứng.

Xem vườn tược xong thì gần tới giờ cơm trưa, cha bề trên đang ngồi nghỉ mệt dưới bóng cây, mồ hôi nhễ nhại. Hai thầy đến quì trước mặt ngài và thưa: “Thưa cha, nếu cha cho phép, chúng con sẽ đi thâu nhặt những lá rau không bị hư nát để dọn bữa ăn thanh đạm và mời cha dùng với chúng con”.

Vừa nghe nói vậy, mắt cha bề trên như sáng lên, vì ngài đã nhận ra nhân đức cao quí của hai thầy: Khiêm nhường, hiền hòa, và nghèo khó. Ngài đứng dậy mở rộng vòng tay ôm lấy hai thầy và vui vẻ nói: “Cảm tạ Thiên Chúa, vì thực sự Thần Khí Chúa đang ngự giữa các con ở nơi đây”.

HienHoa-ThanhBan (DGM Paul Piquet LOI)Và chắc hẳn nhiều người còn nhớ ĐGM Paul Raymond Marie Marcel Piquet LỢI (1888–1966, Pháp), Giám mục tiên khởi Giáo phận Tông Tòa Nha Trang (Giáo phận Đông Đàng Trong). Ngài được mệnh danh là “Mục tử Nhiệt thành, Khó nghèo và Nhân hậu”. Mồ côi mẹ lúc mới 6 tuổi, cậu Marcel đặt trọn tình yêu và lòng tín thác vào Người Mẹ trên trời là Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm.

Khi sắp mãn lớp Terminal (tương đương lớp 12) tại Tiểu chủng viện Notre Dame des Champs, ngày 15-09-1908, ngài xác quyết ơn gọi truyền giáo của mình trong thỉnh nguyện thư gởi cha Giám đốc Đại chủng viện Thừa sai Bièvres như sau: “Con không có những tài năng lớn lao, cũng không có những nhân đức cao cả. Nhưng con biết rằng Chúa Nhân Lành gọi con trong Ơn gọi Truyền giáo. Hành trang đức hạnh con mang theo không có những phẩm tính cao quí, nhưng con hiến dâng tất cả những gì con có. Đó là thiện chí của con. Ước muốn quyết liệt của con là sau này trở nên một công cụ hữu dụng trong tay các Bề Trên”. Những lời chân thật và khiêm nhường quá, phải là một tâm hồn thánh thiện mới có được ý tưởng như vậy!

Ngài thụ phong linh mục ngày 27-11-1912, rồi lên đường truyền giáo tại Việt Nam, cụ thể là ngài đặt chân lên miền truyền giáo Qui Nhơn ngày 29-12-1912. Từ đó, ngài lấy tên Việt Nam là Lợi.

Ngày 11-11-1943, ngài được bổ nhiệm làm Đại diện Tông Tòa Giáo phận Qui Nhơn, được tấn phong giám mục tại nhà thờ Chính toà Qui Nhơn, qua việc đặt tay của Khâm Sứ Toà Thánh là ĐGM Drapier. Ngày 23-06-1961, ngài nhậm chức Giám mục Chính tòa Giáo phận Nha Trang với phương châm: “Ut in omnibus maxime ametur Deus” (Để Thiên Chúa được hết lòng yêu mến trong mọi sự). Trên huy hiệu giám mục có Chiên Con cầm cờ chiến thắng. Ngài qua đời tại Saigon ngày 11-07-1966, an táng tại Nhà thờ Chính toà Nha Trang ngày 18-07-1966.

ĐGM Paul Raymond Marie Marcel Piquet LỢI đúng là một tấm gương sáng để chúng ta cùng soi chung vậy!

Trầm Thiên Thu

Thứ Bảy, ngày 27 tháng 9 năm 2014

GIẢ NHƯ KHÔNG CÓ THIÊN THẦN



 Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long


Không ai là con người đã tận mắt nhìn thấy một Thiên Thần nào. Nhưng chúng ta cảm nghiệm thầy có sự gì linh thiêng. Phải một ai đó hằng cùng đồng hành với ta trong mọi bước đường đời sống. Theo đức tin chúng ta gọi ai đó là ThiênThần.

Vậy đời sống con người chúng ta sẽ ra sao, giả như nếu không có Thiên Thần? Thắc mắc này có thể được nêu ra nhân ngày lễ kính nhớ các các vị Tổng lãnh Thiên Thần Micae, Gabriel và Raphael ngày 29.09. và ngày lễ kính nhớ Thiên Thần bản mệnh hằng năm vào ngày 02.10.

Nhạc sĩ Johann Sebastian Bach, một nhà soạn nhạc thời danh cho đại phong cầm thời cổ điển, trong một tác phẩm nhạc đã viết lời ca : Hỡi các Thiên Thần hãy ở lại , xin các vị ở lại với tôi.

Kinh nghiệm cùng cảm nghiệm xưa nay nói với chúng ta, đời sống mà không có Thiên Thần, sức mạnh thiêng liêng cùng đồng hành, coi như sự gì quan trọng cần thiết cho đời sống thiếu sót vậy.

Đức tin và cảm nghiệm thiêng liêng nói cho hay Thiên Thần, dù ta không trông thấy, là Vị Sứ Giả của Trời cao sai đến để gìn giữ che chở con người.

Nhà thần học Tin Lành Claus Westermann nói lên tâm tư: „ Nếu không có Thiên Thần được sai đến trần gian, thế giới này sẽ đi xuống mau tàn lụi. Bao lâu Thiên Chúa gìn giữ che chở trái đất, Người hằng gửi sai Thiên Thần đến.“.

Kinh Thánh khi nói về Thiên Thần, vẽ ra hình ảnh một nhân vật trung gian thiêng liêng giữa trên cao và bên đưới, giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người.

Trong thánh kinh cựu ước hình ảnh Thiên Thần được nói nhắc tới 120 lần.

Trong kinh thánh tân ước sự hiện diện của Thiên Thần được diễn tả thuật lại là điều kiện hiển nhiên. Thiên Thần có mặt trong đêm Chúa Giêsu giáng sinh làm người, Thiên Thần hiện đến an ủi nâng Chúa Giêsu trong vườn hấp hối Gietsimanie, Thiên Thần canh mộ Chúa Giêsu.

Thiên Thần là Sứ Giả thiêng liêng của Thiên Chúa, dù họ là Tổng lãnh Thiên Thần hay Thiên Thần bản mệnh của mỗi người. Thiên Thần như thế khác nào là nhịp cầu nối liền giữa trời và đất, giữa trên cao và sâu thẳm bên dưới.
Theo hình ảnh đó, nghệ thuật Kitô giáo trình bày Thiên Thần có đôi cánh bay lượn giữa hai nơi từ trên cao xuống bên dưới, giữa Thiên Chúa và con người.

Hình ảnh mường tượng này có từ hằng thế kỷ nay, và chỉ có ý nghĩa nâng đỡ trí tượng tượng thôi. Đẹp thi vi thơ mộng, nhưng không là điều bắt buộc phải tin nhận như thế.

Các vị Tổng Lãnh Thiên Thần có những hình ảnh dấu chỉ thật rõ nét đầy uy lực.
Tổng lãnh Thiên Thần Michael có tước hiệu: Ai bng Thiên Chúa?

Tổng lãnh Thiên Thần Raphael có danh hiệu:Thiên Chúa cha lành.

Tổng lãnh Thiên Thần Gabreil có tênn xưng: Người tôi t ca Thiên Chúa.

Tên ba vị tổng lãnh Thiên Thần đều ẩn có tên của Thiên Chúa El, dạng rút gọn cho Elohim. Với sự hiện diện của các Thiên Thần, Thiên Chúa đến có mặt trong đời sống con người ở trần gian.

Rồi trong đời sống, chúng ta đã có lần thấy tận mắt hay chính mình đã trải qua một tai nạn xe hơi xảy ra. Chiếc xe bị hư hại hầu như hoàn toàn. Nhưng người lái xe chui ra khoi xe an toàn không một vết thương nơi thân mình. Chúng ta ai cũng kêu lên: ồ người đó có một Thiên Thần bản mệnh qúa lớn che chở cho mới được như vậy.

Qua sát một em bé chạy ngã tè nằm xoài trên nền đất kêu la khóc lóc đòi cha mẹ. Nhưng khi mẹ em bế em lên, toàn thân em an toàn không có vết thương tích gì xảy ra. Lẽ dĩ nhiên em bị hoảng hốt nên kêu la là chuyện thường thôi. Thiên Thần bản mệnh của em bé nâng đỡ gìn giữ em được an toàn lành mạnh không bị thương tích gì.

Hình ảnh Thiên Thần bản mệnh nói lên khía cạnh lòng khao khát mong đợi của tâm hồn con người được che chở bảo vệ trước sự dữ, sự xấu đe doạ đời sống.

Và hình ảnh Thiên Thần bản mệnh  cũng nói lên, chính con người theo lương tâm ngay thẳng chặt chẽ được nhắc bảo: hãy canh chừng đừng làm gây ra sự dữ sự xấu cho người khác.

Chúng ta cần Thiên Thần bản mệnh, Sứ giả của Thiên Chúa  gìn giữ bảo vệ đời sống con người được an lành.

Nhưng con người chúng ta cũng cần nhau. Vì mỗi người cũng là „Thiên Thần bản mệnh cho nhau“  trong đời sống, khởi đầu từ trong gia đình giữa vợ chồng, giữa cha mẹ với con cái, giữa anh chị em, giữa bạn bè, giữa con người với nhau trong xã hội.



Thứ Năm, ngày 25 tháng 9 năm 2014

DÙ TẢ HỮU CÓ NGÀN NGƯỜI QUỴ NGÃ, RIÊNG PHẦN BẠN, TUYỆT NHIÊN KHÔNG HỀ HẤN!



... Trong cuộc đời, tôi đã từng đối chiếu sự hiện diện của THIÊN CHÚA xuyên qua các bằng chứng mà tôi phải trực diện: đó là sự Quan Phòng của THIÊN CHÚA hành động để an ủi khuyến khích linh hồn và cung cấp các phương thế cụ thể để vượt thắng mỗi cản trở mỗi khó khăn. Tôi xin phép kể lại một biến cố đã làm thay đổi và chiếu sáng cuộc đời tôi.

Đầu tháng 12 năm 2002, cùng với gia đình, chúng tôi bị một tai nạn lưu thông rất trầm trọng, suýt bị mất toi mạng sống! Tôi được thoát chết trong đường tơ kẽ tóc! Kể từ giây phút ấy tôi được tiên báo hàng ngày cường độ sự hiện diện của THIÊN CHÚA và Đức Trinh Nữ Rất Thánh MARIA, các Đấng đã cứu sống tôi.

Trong thời kỳ dưỡng bệnh tôi hiểu sâu xa tầm quan trọng các giá trị và mối quan hệ của một gia đình Công Giáo. Và nhờ hiền thê Giusi cùng ái nữ Barbara mà tôi cảm nghiệm niềm vui cảm thông và sự trợ giúp quý báu trong những lúc cần thiết.

THIÊN CHÚA - để hoàn tất công trình của Người - đã đặt để trên đường tôi đi ”một dụng cụ” làm thay đổi đời sống thiêng liêng của tôi. Thật vậy, vào một buổi sáng trong tháng 12, vỏn vẹn vài ngày trước Lễ Giáng Sinh, trong lúc đau yếu và bị bó buộc phải nghỉ ngơi, một Linh Mục bất ngờ đến thăm tôi. Tôi vừa ngạc nhiên vừa vui sướng tiếp rước ngài, bởi lẽ ngài là thành viên một phong trào tôi mới gia nhập. Đó là phong trào ”Các Tôi Tớ Khiết Tâm Đức Mẹ MARIA”.

Suốt buổi sáng hôm ấy, tôi nói với ngài về tình trạng sức khoẻ, về công ăn việc làm và về một vài biến cố diễn ra ghi đậm dấu ấn trong cuộc đời tôi. Chẳng hạn như cái chết quá sớm của thân phụ khi tôi mới lên 11 tuổi còn em trai Daniele mới lên 9 tuổi. Tôi kể cho ngài nghe những hy sinh to tát thân mẫu tôi chấp nhận để dưỡng dục chúng tôi nên người và không bao giờ để chúng tôi phải thiếu thốn hoặc mang mặc cảm thua kém so với các bạn đồng tuổi. Trong bối cảnh ấy, THIÊN CHÚA Quan Phòng không hề bỏ rơi chúng tôi. Mẹ tôi - được may mắn có việc làm nơi nhà thương với tư cách y tá - luôn luôn cảm tạ THIÊN CHÚA về các trợ giúp vật chất và tinh thần Ngài dành cho gia đình bé nhỏ của chúng tôi. Tôi nhớ rõ mẹ tôi cầu nguyện thật sốt sắng và không mệt mỏi bao giờ!

Sau lần gặp gỡ với vị Linh Mục Tôi Tớ Khiết Tâm Đức Mẹ MARIA ấy, tôi cảm nghiệm một điều gì đó thay đổi trong lòng và bắt đầu phản ảnh trên cuộc sống thiêng liêng của tôi. Tôi cầu nguyện sốt sắng hơn liên lỉ hơn để tìm kiếm đâu là chương trình THIÊN CHÚA hoạch định cho tôi và cho những người thân yêu của tôi.

Cứ thế cho đến ngày 4-1-2003 tôi đến nhà thờ xứ đạo. Sau cuộc xưng tội kéo dài thật lâu, tôi tham dự Thánh Lễ của ngày thứ bảy đầu tháng. Chiều hôm ấy, khi cảm nhận một sức mạnh lớn lao đang tái sinh trong tâm hồn, tôi bỗng hiểu rằng cuộc gặp gỡ vài ngày trước đó với vị Linh Mục đã chiếu sáng hành trình thiêng liêng của tôi và chính THIÊN CHÚA đã gởi đến cho tôi vị Linh Mục này - không phải do tình cờ - nhưng có kế hoạch hẳn hoi, để nâng đỡ và hướng dẫn tôi đi theo con đường của phong trào ”Các Tôi Tớ Khiết Tâm Đức Mẹ MARIA”.

Kể từ thời điểm ấy, tôi phó thác mình vào vòng tay chăm sóc thiêng liêng của Cha Linh Hướng. Tôi ngoan ngoãn nghe theo các chỉ dẫn của người với trọn niềm tin cậy. Với niềm vui nội tâm tràn bờ tôi bước theo một lộ trình đưa tôi đến việc khám phá ra tầm quan trọng nền tảng của việc hướng dẫn thiêng liêng cũng như việc thường xuyên lãnh bí tích Giải Tội.

Tôi dâng lời cảm tạ THIÊN CHÚA đã khoan hồng ban cho tôi các phương thế để cải thiện đời sống tôi trong tư cách là chồng là cha và là người dấn thân trong nghề nghiệp.

Sau cùng tôi hiểu được thế nào là điều chính yếu của đời sống thiêng liêng được nuôi dưỡng bằng bí tích Thánh Thể, bằng việc lần hạt Mân Côi và bằng mối quan hệ đặc biệt con thảo với Cha Linh Hướng của tôi. Người luôn luôn khuyến khích và trao tặng sức mạnh để tôi đương đầu với mọi khó khăn trong cuộc sống thường nhật cũng như bước theo ”kế hoạch” mà THIÊN CHÚA đã vạch ra cho tôi.

Kể từ năm 2003 tôi tham dự cuộc tĩnh tâm hàng năm do Phong Trào tổ chức tại Fatima bên Đồ Đào Nha hoặc tại Ý. Tôi cũng khởi sự một lộ trình huấn luyện đưa dẫn cả tôi lẫn hiền thê tôi đến việc ”Tận Hiến” trong Phong Trào vào tháng 5 năm 2004.

Với chúng từ này, tôi muốn nêu bật tầm quan trọng sự hiện diện của một Cha Linh Hướng, người đồng hành và hướng dẫn chúng ta trong cuộc sống mỗi ngày. Riêng trong kinh nghiệm bản thân, tôi thấy rằng những ơn lành tôi nhận được đúng thật là Hồng Ân đến từ THIÊN CHÚA Nhân Lành. Tôi cầu chúc cho tất cả mọi người được cảm nghiệm niềm vui và niềm hạnh phúc mà tôi được tận hưởng khi bước đi trên con đường Đức Tin và Hoán Cải trong Phong Trào ”Các Tôi Tớ Khiết Tâm Đức Mẹ MARIA”.

(Chứng từ của ông Alessandro Giannetti tín hữu Công Giáo Ý)

... Hỡi ai nương tựa Đấng Tối Cao và núp bóng Đấng quyền năng tuyệt đối, hãy thưa với Chúa rằng: ”Lạy THIÊN CHÚA, Ngài là nơi con nấu ẩn, là đồn lũy che chở, con tin tưởng vào Ngài”. Chính Chúa gìn giữ bạn khỏi lưới kẻ thù giăng, khỏi tai ương tàn khốc. Chúa phù trì che chở, dưới cánh Người, bạn có chỗ ẩn thân: lòng Chúa tín trung là khiên che thuẫn đỡ. Bạn không sợ cảnh hãi hùng đêm vắng hay mũi tên bay giữa ban ngày, cả dịch khí hoành hành trong đêm tối, cả ôn thần sát hại lúc ban trưa. Dù tả hữu có ngàn người quỵ ngã, dù hai bên có chết cả vạn người, riêng phần bạn, tuyệt nhiên không hề hấn .. Bạn sẽ không gặp điều ác hại, và tai ương không bén mảng tới nhà, bởi chưng Người truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá. Bạn có thể giẫm lên hùm thiêng rắn độc, đạp nát đầu sư tử khủng long. Chúa phán: ”Kẻ gắn bó cùng Ta sẽ được ơn giải thoát, người nhận biết danh Ta sẽ được sức phù trì. Khi kêu đến Ta, Ta liền đáp lại, lúc ngặt nghèo có Ta ở kề bên. Ta giải cứu và ban nhiều vinh dự, cho sống lâu, tuổi thọ dư đầy và hưởng ơn cứu độ Ta ban” (Thánh Vịnh 91(90)).

(”Maria di Fatima”, Mensile dei Servi del Cuore Immacolato di Maria, Anno XVI, n.6, Giugno 2014, trang 20-21)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Thứ Sáu, ngày 19 tháng 9 năm 2014

PHÉP LẠ THỨ HAI



Nguyên tác: Phép lạ thứ hai đã nâng Đức Gioan Phaolô II lên hàng hiển thánh. 

SANTO DOMINGO. Vào tháng Năm năm 2011, các bác sĩ điều trị cho Bà Floribeth Mora Diaz đã thấy tình trạng của Bà được hồi phục một cách nhanh chóng và đã không tìm ra lý do, đó chính là phép lạ thứ 2 nhờ lời chuyển cầu của Chân Phước Gioan Phaolô 2. Và đây là phép lạ được công nhận để Đức Thánh Cha Phanxicô ký sắc lệnh phong Thánh cho vị tiền nhiệm của Ngài.

Sau khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô ký sắc lệnh phong thánh cho Chân Phước Gioan Phaolô II vào ngày 5/7, tại Costa Rican cũng đã mở cuộc họp báo và Bà Floribeth Mora Diaz đã tường thuật cho báo chí biết rõ sự việc xảy ra phép lạ đối với bà.

Bà Mora đã bị bệnh bướu màng óc, và Bác Sĩ đã quyết định nói rằng Bà chỉ còn sống được vài ngày cho nên bà đã xin về nhà để được xum họp với gia đình và đã cầu nguyện đến Chân Phước Gioan Phaolô II.

Rồi từ căn phòng ngủ trong căn nhà tại một tỉnh lẻ ở Cartago nước Costa Rica. Bà Mora đã nghe được một tiếng nói trong lòng bà “ Hãy đứng dậy …. Đừng sợ!”

Bà bước xuống giường và đứng dậy đã khiến cho người chồng sửng sốt “Em à! Có chuyện gì vậy”. Trong nước mắt bà đã kể lại câu bà nói với chồng “Em cảm thấy khỏe hơn”.

Trong cuộc họp báo với báo chí bà đã khóc ra nước mắt và cầm trên tay tạp chí có hình bìa là Chân Phước Gioan Phaolô II. Bà đã nói với báo chí rằng bà đã biết không thể thoát tay tử thần.

Vào tháng Tư năm 2011 bà đã cảm thấy choáng váng nhức đầu rất dữ dội, khi tới nhà thương bà được chuẩn đóan là bị bướu màng óc. Bà nói “tôi buồn lắm, khi nhìn thấy những đứa con và người chồng đứng chung quanh giường”.

Trong gia đình, bà có lòng tôn kính đến Chân Phước Gioan Phaolô II một cách rất đặc biệt, gia đình đã lập một bàn thờ nhỏ có hình Chân Phước. Và cuốn tạp chí mà bà cầm ngay hôm nay là có người đã tặng cho bà cách đây 2 năm. Bà nhìn vào hình bìa của Chân Phước, rồi bà nghe thấy Chân Phước Gioan Phaolô nói trong lòng bà. “Tôi rất ngạc nhiên và tôi vẫn chăm chú nhìn vào tấm hình rồi tôi nói ‘Vâng thưa Ngài con sẽ đứng dậy' “.

Trong cuộc họp báo còn có Bác Sĩ Alejandro Vargas là người đã điều trị cho Bà, chính Bác Sĩ Vargas cũng nói khi chuẩn đoán căn bệnh của bà, Bác Sĩ biết là tính mạnh của bà đang trong tình trạng nguy cập khó lòng thoát khỏi. Và Bác Sĩ cũng nói sự hồi phục của bà, y khoa không thể nào chứng minh nổi “Tôi rất đỗi ngạc nhiên, thực sự là một phép lạ vì tôi không thể nào giải thích được”.

Bà Mora cũng cho biết bà rất đỗi sợ hãi vì căn bệnh của bà, thế nhưng “tôi luôn luôn giữ vững đức tin một cách kiên cường, tôi luôn đặt trọn vào tình yêu của Thiên Chúa”.

Đây là phép lạ thứ 2 do Đức Gioan Phaolô II chuyển cầu, phép lạ đầu tiên đã được công nhận để Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 ký sắc lệnh phong Chân Phước là phép lạ lành bệnh của một nữ tu người Pháp mắt bệnh Parkinson vào năm 2005 cũng là năm mà Đ


Nguồn tin: vietcatholic.net

NHỮNG PHÉP LẠ CỦA MẸ MARIA



NGUYÊN TÁC: NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ MẸ MARIA


1.  NHẸ NHƯ BÔNG
Năm 1240 quân Mông cổ hung hãn tiến quân chiếm phá biên giới nước Nga, đối phá nhà thờ và làng mạc không tiếc tay. Nhà Dòng thánh Giacintô đang ở cũng bị uy hiếp nặng nề. Các thầy giục cha thánh Giacintô trốn thoát ngay kẻo nguy cho tính mạng. Thánh nhân bình tĩnh vào nhà nguyện lấy bình đựng Mình Thánh đem đi theo mình, khi ngang qua tượng Đức Mẹ, ngài thầm nghĩ: “Nếu để Mẹ ở lại thì thế nào quân giặc cũng xúc phạm tới, mà đem đi thì. . . nặng ơi là nặng, tượng Đức Mẹ bằng xi-măng to lớn, vì lòng mến yêu Đức Mẹ ngài nhất định đem tượng Mẹ đi theo và đến tận nơi giơ tay ôm choàng lấy tượng Mẹ ôm đi.
Ôi, quyền phép Mẹ vô song. Mẹ đã làm cho tượng trở nên nhẹ nhàng ôm đi như ôm một bó bông vậy. Thế là một bay bế Chúa một tay ẵm Đức Mẹ, Thánh Giacintô đã tiến qua quân giặc vô sự. Ra tới bờ sông, thuyền bè không có mà cứ tin vào Mẹ, thánh nhân bước trên mặt nước tiến về nhà dòng tại Cracôvie. Bấy giờ đặt tượng Mẹ xuống, pho tượng lại trở nên nặng như cũ.

2. VÌ DANH MẸ 
Trong truyện Gemma Glagali chết ngày 11.4.1903, đã được phong Á Thánh năm 1933, cha Schlegel có kể phép lạ này đã được tòa thánh công nhận.
Một hôm, Gemma ngất trí, cầu nguyện to tiếng cho một người được thiên hạ coi là đạo đức sốt sắng lắm:
-Lạy Chúa, người ấy là con cái Chúa, là anh con đây, xin Chúa thương cứu chữa kẻ khốn nạn đó.
Thấy Chúa ra như nhất định bỏ không nghe, cô lại kêu xin:
-Lạy Chúa, sao hôm nay Chúa không muốn nghe lời con, xin Chúa đừng nói: "Bỏ mặc kệ nó". Chúa là Ðấng rất nhân từ hiền hậu. Câu nói đó làm con run sợ. Xưa Chúa không đếm xỉa gì đến Máu thánh đã đổ chan hòa cho tội nhân, sao ngày nay Chúa lại đắn do, đếm xỉa đến một số tội của chúng con.
Chúa không chấp nhận, Ngài tỏ cho cô những tội vừa nhiều vừa nặng của người đó, cả thì giờ và nơi người đó phạm. Cô đọc lại rõ ràng các lời chúa phán với cô, cha linh hồn cũng nghe rõ. Cô Gemma rụng rời kinh hãi, hai tay để rơi xuống như thể thất vọng. Song một lúc sau, cô lại bắt đầu nài nỉ:
-Lạy Chúa con biết rằng, người ấy đã phạm đến Chúa rất nặng, mà phần con cũng chẳng đáng được Chúa nhận lời, nhưng con xin dâng cho Chúa Ðấng cầu bầu kẻ tội lỗi là Ðức Maria Mẹ rất thanh sạch và hay thương xót của Chúa. Con tin chắc với Ðức Mẹ, Chúa không thể từ chối. Lần này Chúa đã nhận lời và cho cô biết Ngài sẽ ban cho người ấy ơn đặc biệt để ăn năn trở lại.
Sung sướng quá, Gemma kêu lên:
-Người đó đã được khỏi, chính Chúa đã tuyên bố như thế.
Cha giải tội trở về nhà liền gặp một người đón xin xưng tội, người đó chính là kẻ mà cô Gemma cầu nguyện cho. Chàng đã xưng thú mọi tội lỗi, những tội mà cha đã nghe chính Gemma nói ra. Song vô tình chàng quên một tội cha phải nhắc cho chàng nhớ. Rồi cha kể lại cho chàng nghe tất cả câu chuyện. Chàng vui mừng cám ơn cô Gemma, và cha. Rồi để tỏ lòng khiêm nhượng và biết ơn Chúa nhân lành và Ðức Mẹ đầy tình thương xót, chàng xin cha công bố chuyện này cho mọi người biết.

3. MỘT HỌA SĨ VẼ QUỈ 
Xưa ở Pháp có một họa sĩ tài ba, hễ bao giờ vẽ ảnh Ðức Mẹ thì cũng vẽ một thằng quỷ nằm dưới chân, mà hình ảnh Mẹ đẹp bao nhiêu thì hình thằng quỳ lại xấu xa bấy nhiêu, vì thế quỷ giận lắm. Ðêm kia, họa sĩ nằm mơ thấy quỷ mắng trách: sao vẽ hắn xấu xí quá vậy? Còn vẽ Ðức Mẹ đẹp như thế? Hắn đe nếu không chừa thói thiên tư đó, sẽ bị quật chết tươi. Họa sĩ đã đối lại với quỉ; Mày chẳng bao giờ khuyên bảo người ta được một lời lành, mà toàn là điều xấu dữ, vì thế hình mày xấu xa quả là xứng đáng.
Thức dậy, họa sĩ lại quyết vẽ ảnh Ðức Mẹ đẹp hơn và hình quỷ xấu xa hơn. Một lần, cha sở thuê họa sĩ vẽ ảnh Mẹ trên cửa nhà thờ rất cao, phải bác ráo mới vẽ nổi. Quỷ lợi dụng dịp may để báo thù, liền làm cơn gió lốc thổi mạnh giật sập ráo họa sĩ đang đứng vẽ, làm ông té nhào xuống. Trong lúc nguy nan đó ông ngước mắt lên, trông ảnh Ðức Mẹ mình đang vẽ trên nóc của nhà thờ và kêu : "Lạy Ðức Mẹ, xin cứu giúp con." Ðức Mẹ không thể bỏ rơi kẻ trông cậy Người, liền nâng đỡ họa sĩ không bị hề hấn gì, dù một chút xây xất cũng không. Ông đã quỳ gối xuống tạ ơn Ðức Mẹ.

4. KIÊN TÂM CẦU NGUYỆN
Tại Pháp, có gia đình sĩ quan M.X. đạo đức, sùng kính Đức Mẹ thật tình, gia đình có bốn người con và thuê hai người giúp việc. Một chị trong hai người giúp lại mắc chứng động kinh, nhà lại nghèo. Bà vợ sĩ quan chỉ muốn
thải chị ta về quê không mượn nữa, vì sợ con mình có ngày chết oan vĩ chị ta. Nhưng ông chồng đạo đức, đầy lòng bác ái không chịu, chỉ muốn lưu lại nhà để nâng đỡ một gia đình nghèo túng. Nhân địp tháng Mẹ về, ông sĩ quan đặt hết niền tin ở Mẹ, rồi bào với vợ cùng làm tuần chín ngày khấn xin với Đức Mẹ cho chị khỏi bệnh. Bà vợ động lòng ưng thuận. Qua tuần chín, chị ở chưa khởi bệnh, bà vợ lại nghi nan và xin thải chị ta về. Ông chồng nhất định lưu lại và cùng với vợ làm thêm tuần chính thứ hai, rồi tiếp tuần chín thứ ba. Ông thường lấy câu Phúc Âm Chúa phán mà giục vợ tin cậy cho vững: "Ai tin sẽ được, ai gõ sẽ mở cho . . ."Sắp mãn tuần chín lần thứ ba. Sau khi dự thánh lễ và hiệp lễ, ông về nhà ở trong phòng riêng, sấp mình trước ảnh Mẹ, thiết tha van nài: "Lạy Mẹ con đã đặt hết niềm tin ở Mẹ, đã đặt hết niền tin tưởng dâng cả gia đình con cho Mẹ, chẳng lẽ Mẹ bỏ lời con xin? Chẳng lẽ lời thánh Bênađô quả quyết: 'Xưa nay chưa từng nghe nói ai chạy đến cùng Mẹ mà Mẹ từ chối' Xin Mẹ thương chị ở gia đình con". Đức Mẹ đã nhận lời, hôm sau chị ở đã khỏi bệnh, cả nhà vui vẻ mua hoa nến đến nhà thờ xin lễ tạ ơn Mẹ.

5. TÁC GIẢ GƯƠNG PHÚC
Hồi còn là học sinh, Thomas a Kempis, tác giả cuốn Gương Chúa Giêsu chuyên chăm học khoa đời đến nỗi quên lãng cả việc đạo đức thường nhật, nhất là các việc quen làm mọi ngày để tôn kính Ðức Mẹ theo lời mẹ cậu dạy từ thu ở mới khôn. Dần dà đã quên hẳn thói lành đó. Dầu vậy, cậu Thomas vẫn còn giữ được tâm hồn gây thơ trong trắng.
Ðức Mẹ muốn cảnh tỉnh Thomas đã cho cậu mơ trong một giấc ngủ, thấy mình đang ở trong lớp học với các bạn, bỗng được Ðức Mẹ hiện đến sáng láng đẹp đẽ vô cùng. Ðức Mẹ vòng quanh lớp học âu yếm an ủi từng học sinh. Thomas hồi hộp chờ đợi Ðức Mẹ đến an ủi mình, nhưng cậu đã thất vọng vì khi đến gần mình, Ðức Mẹ không tỏ dấu yêu thương âu yếm mà trái lại bằng cặp mắt nghiêm nghị, Ðức Mẹ trách Thomas: "Con đừng mong cho Mẹ âu yếm, vì con không trung thành với Mẹ. Dầu những việc lành con đã làm, những kinh con đã quen đọc xưa để tôn kính Mẹ. Sao con chóng thay đổi thế?"
Quở trách xong, Ðức Mẹ biến đi. Thomas thấy mình xấu hổ lo sợ quá, giật mình thức giấc, quyết chí sửa mình lại, và cố gắng sống đời thánh thiện hơn trước.

6. GIỜ CHẾT
Năm 1313, một tu sĩ dòng Bruno có lòng yêu mến Ðức Mẹ lắm, một hôm ngã bệnh rất nặng, quỉ liền hiện đến, trao cho một cuốn sách lớn ghi chép hết mọi tội lỗi thầy đã phạm từ nhỏ tới nay, rồi bảo thầy: "Các tội của mày đã bị biên ch
ép rõ ràng rồi đó, Ðức Chúa Trời chẳng tha cho mày đâu." Thày quá sợ hãi, run sợ vì biết mình thế nào cũng phải sa hỏa ngục.
Ðang lúc thầy buồn rầu hầu như thất vọng, bỗng thấy Ðức Mẹ ẵm Chúa Giêsu hiện đến phán bảo thầy: "Con đừng sợ, Mẹ chẳng bao giờ bỏ kẻ trông cậy Mẹ trong giờ họ gặp nguy hiểm như con đây. Ðây là Chúa Giêsu Con Mẹ, Người đã tha thứ hết mọi tội của con." Bệnh nhân nghe lời Mẹ, tâm hồn bình an trở lại.
Linh mục đến xức dầu cho Thầy, ban của ăn đàng và phép lành sau hết. Khi linh mục đọc đến câu: "Các thánh nam và các thánh nữ xin cầu cho linh hồn Phêrô," thì thầy kêu to: "Lạy các thánh nam nữ tôi đang được xem thấy, xin cầu cho tôi." Rồi nhắm mắt thở hơi cuối cùng trong tay Ðức Mẹ.

7. ÐỨC MẸ HAY CỨU GIÚP CÁC LINH HỒN Ở LUYỆN NGỤC
Xưa Ðức Mẹ bảo bà thánh Birgitta rằng: "Mẹ là Mẹ các linh hồn ở luyện ngục, Mẹ hằng giúp đỡ, giảm bớt những hình khổ cho chúng". Mẹ thế gian thấy con mình sa lửa thì tìm cách cứu nó ngay. Ðức Mẹ là Mẹ nhân từ, thấy con cái mình bị sa lửa luyện ngục lẽ nào không thương xót cứu giúp.
Người soi lòng những kẻ còn sống dâng lời cầu nguyện, dâng việc lành phúc đức cho các linh hồn ấy, hoặc Người xin Chúa cho các linh hồn ấy được về thế gian xin người còn sống cứu giúp mình như xưa Người đã xin cho Ðức Giáo Hoàng Inôxentê hiện về xin bà thánh Lutharde cầu nguyện cho mình.
Có khi Ðức Mẹ xuống nơi những linh hồn ấy để giảm bớt hình khổ cho họ. Ðức Mẹ hằng làm việc lành chỉ cho các linh hồn ấy. Những lời Người cầu nguyện, những việc lành Người làm như sương sa, như nước lạnh dập tắt những ngọn lửa nóng rát thiêu đốt các linh hồn.
Ðức Mẹ giảm bớt những đau khổ cho các linh hồn, lại được quyền rút vắn thời hạn giam phạt các linh hồn ấy. Cũng như Hoàng hậu xin vua ân xá phóng thích cho tù nhân, Ðức Mẹ xin Chúa cũng giảm bớt thời hạn giam phạt hay phóng thích ngay cho các linh hồn. Nhất là những linh hồn mồ côi, được Ðức Mẹ thương giúp cách riêng.
Các thánh dạy: Ðức Mẹ về trời mang theo các linh hồn ở luyện ngục. Ông Gerson nói rằng: Ngày hôm ấy, ngục tối đã ra vắng vẻ, vì mọi linh hồn đã được theo chân Mẹ về trời.
Nhiều đấng thánh nói: những ngày lễ kính Ðức Mẹ, Ðức Mẹ xuống luyện ngục an ủi các linh hồn, có linh hồn được Ðức Mẹ giảm bớt hình khổ, có linh hồn được Ðức Mẹ đưa về trời ngay.
Xưa Ðức Mẹ hiện ra phán cùng Ðức Giáo Hoàng Gioan rằng: "Những ai mặc áo ?Ðức Bà và tôn sùng Mẹ khi còn sống, thì lúc chết mà còn bị giam trong luyện ngục, Mẹ sẽ xuống cứu và đưa kẻ ấy về thiên đàng ngày thứ bảy sau khi kẻ ấy qua đời".
Ta hãy bắt chước Ðức Mẹ thương giúp các linh hồn ở luyện ngục, nhất là những linh hồn mồ côi, linh hồn cha mẹ, họ hàng thân thích những kẻ làm ơn cho ta. Ta hãy đọc kinh lần hạt, làm phúc bố thí, xưng tội chịu lễ, dâng cho các linh hồn ấy chóng được về nơi mát mẻ.
Một lần kia, thánh Gioan Kim Ngôn, thấy một thiên thần cầm chén nước đựng Máu Thánh Chúa Giêsu đổ xuống lửa luyện ngục. Nhờ đó nhiều linh hồn trở nên sáng láng ra khỏi luyện ngục mà lên thiên đàng.

8. MỘT EM BÉ
Ðời Ðức Mauritio làm giám mục thành Constantinopoli có thói lành: sau khi linh mục cho giáo dân rước Chúa, nếu còn sót lại các mụn Bánh Thánh, thì đưa cho các em nhỏ chưa có trí khôn chịu lấy, lý do vì các em có tâm hồn trong sạch.
Trong thành Constantinopoli có 1 gia đình Do Thái làm nghề nấu thủy tinh, cũng cho con cái đi học trường Công giáo. Một hôm em bé Do Thái theo chúng bạn vào nhà thờ dự thánh lễ, rồi cùng lên rước mụn Bánh Thánh còn dư. Lúc về nhà em kể cho ba. Ba của em là người Do Thái sẵn óc ghét Công giáo, nghe con nói liền nổi xùng lên, túm lấy hai chân em bé ném vào lò lửa đốt sẵn để nấu thủy tinh. Bà vợ vắng nhà, khi về, không thấy con đâu, hỏi chồng, ông làm thinh không nói. Bà đi khắp nơi hỏi han tìm kiếm ba ngày mà vẫn biệt vô tín.
Tới ngày thứ bốn, bà ngồi ở nhà khóc ròng, thì nghe tiếng con gọi, giật mình, bà nín khóc lắng tai nghe. Biết rõ tiếng kêu phát ra từ lò thủy tinh, bà xấn xổ chạy tới, nhìn vào trong thấy con mình đang ngồi giữa lửa. Sợ hãi kinh khiếp, bà kêu thất thanh xin cầu cứu.. Hàng xóm láng giềng tuôn đến vây quanh.
Ôi lạ lùng, em bé chẳng bị cháy, không bị bỏng, ngồi bằng yên vô sự, mặt mày vui vẻ. Người ta đưa em ra khỏi lò lửa, đưa em vào nhà, được em kể lại: Em đi dự lễ với các em Công giáo và lên rước mụn Bánh Thánh, lúc về nhà khoe với ba, ba tức giận ném vào lò lửa. Nhưng khi đó có một Bà đẹp, giống như Bà đứng trong tòa ở nhà thờ Công giáo, Bà giữ gìn em cho khỏi lửa cháy và cho em ăn.
Mọi người tin thật đây là Ðức Maria đã cứu em khỏi chết cháy. Vua nghe tin đã truyền chém đầu tên bố, còn em bé và mẹ em đã trở về Công Giáo, sống đạo rất tốt lành.

9. NGƯỜI RỐI ĐẠO
Ở nước Tây Ban Nha, có một người phạm tội như uống nước lã! Không kể tội rối đạo, tội nào cũng là môn sở trường của ông. Tệ hơn cả, ông lại thích phạm những tội mà ông biết rõ là làm đau lòng Chúa nhất!
Ðến tuổi già lụ khụ, ông lâm trọng bệnh, nhưng tuyệt nhiên không hề có một ý nghĩ nào trở lại cùng Chúa....
Trong một đêm thức trắng, ông thấy Ðức Nữ Vương trên trời hiện ra gần giường ông, nhìn ông bằng đôi mắt thùy mị, nhân từ và thương xót, rồi biến đi mà không nói nửa lời.
Lúc đó, bệnh nhân mới nhớ cuộc đời đầy tội lỗi của mình. Nhìn về dĩ vãng đen tối, ông phiền sầu lo lắng nước mắt trào ra, nếu không vì yếu liệt, ông đã hối hả chạy đi gặp linh mục để xưng tội.
Sáng hôm sau, ông vội cho người đi mời linh mục. Chính cha Nieremberg, linh mục Dòng Tên, là tác giả chuyện này, đã được cử đến giúp ông. Tội nhân đã xưng thú một cách rõ ràng tỉ mỉ hết mọi tội lâu tới 3 giờ. Cha giải tội phải sửng sốt vì linh hồn ông được ơn soi sáng và lòng thống hối tuyệt vời như vậy.
Xưng tội xong, ông khấn hứa với Chúa trước mặt cha:
- Nếu Chúa cho con bình phục, con sẽ đi tu dòng để đền tội.
Nhưng ông lại thêm: "Nếu Chúa muốn cho con ra khỏi đời này, thì xin cha cầu nguyện cho con được làm trọn ý Chúa."
Thánh ý Chúa đã được thực hiện. Năm ngày sau đó, đầy tâm tình thống hối và yêu mến, ông đã từ trần giữa những thương tiếc cũng như hoan hỉ của mọi người chứng kiến.
Trước khi chết cha Nieremberg có hỏi ông:
- Ông có quen làm việc để tôn kính Ðức Mẹ không?
Ông trả lời:
- Thưa cha con chỉ làm một việc rất nhỏ: hằng ngày đọc một kinh Kính Mừng. Hôm nay, con xin cha một điều là, để làm vinh danh Mẹ Thiên Chúa, xin cha hãy rao giảng mọi nơi về tình thương đặc biệt Ðức Mẹ đã đoái thương đến một kẻ rất tội lỗi, khốn nạn là con đây.

10. MẸ TRẢ TIỀN KHẤN
Ở thành Chieti miền Naple, có một người làm nghề đặt nợ ăn lãi. Y chẳng biết ai, chỉ biết có tiền. Với hạng khổ rách áo ôm y cũng chẳng thông cảm mà còn bóc lột tận xương tủy, chẳng tha. Chúa đã phạt y phải bệnh phong hủi
từ đầu đến chân. Bao nhiêu tiền của đổ ra để uống thuốc cũng đều vô ích, tiền mất tật mang. Không còn trông được người thế gian cứu chữa, Y chạy đến Ðức Mẹ Loretta và vẫn tha thiết xin Mẹ cứu chữa rồi sai người bỏ vào hòm tiền khấn nơi bàn thờ Ðức Mẹ một trăm đồng vàng.
Ðược Ðức Mẹ chữa khỏi bệnh, mọi người hoan hỉ chia vui với Y. Lợi dụng dịp tốt, một người bạn lấy tình anh em khuyên y từ nay bỏ nghề vơ vét của phi nghĩa; hãy lợi dụng số tiền còn lại có thể sống đàng hoàng không lo chết đói, không nên kiếm bằng những phương pháp bất chính nữa. Nhưng y nhích mép cười cách mai mỉa mà nói: ?Nếu lấy lãi nặng là trọng tội, thì Ðức Mẹ đã chẳng phạm tội ấy với tôi rồi ư? Ngài đã lấy của tôi những trăm đồng vàng mới chữa cho tôi khỏi bệnh".
Người bạn khiếp sợ vỉ lời nói phạm thượng đó, bỏ đi. Ðêm sau y kêu la rên rỉ:
-Ôi! Tôi chết mất! Tôi chết mất!
Người nhà chạy vội đến hỏi, y trả lời:
-Bệnh hủi lại tái phát! Tôi đau đớn lắm ! Ở cạnh sườn tôi có hòn than nóng bỏng đang nung đốt tôi khốn nạn lắm.
Một đầy tớ thò tay vào cạnh sườn y sờ thấy cái túi chứa một trăm đồng vàng và đưa cho y. Khi nhìn thấy số vàng đó và lời phạm thượng y đã thốt ra, y thất vọng, lo sợ rồi kêu lên:
-Tôi hỏng mất rồi! Tôi mất linh hồn rồi! Than ôi! Ðức Mẹ không cứu tôi nữa!
Nói xong y tắt thở.

11. THƯ KHÔNG ĐỊA CHỈ
Trong niên sử Dòng Thánh Phanxicô thật lại chuyện này.
Hai tu sĩ dòng lên đường đi kính viếng một đền thờ Đức Mẹ, đến giữa một khu rừng thì trời sập tối. Vừa bối rối vừa lo sợ, 2 thầy không biết sẽ ra sao, cứ bước liều t
rong đêm tối, thì thấy 1 ngôi nhà ở trước mặt. Hai thầy tiến tới và sờ soạng tìm cửa. Tìm được cửa rồi, bèn gõ cửa gọi. Có tiếng từ trong vọng ra:
- Ai đó?
- Chúng tôi là hai tu sĩ nghèo, vì đêm xuống giữa rừng sâu này. Xin đến trọ nhờ để khỏi muôn dữ ăn thịt.
Cửa mở. Hai thầy thấy hai tiểu đồng y phục sang trọng ra đón tiếp, chào rất lịch sự. Hai thầy hỏi xem ai là chủ nhà thì được tiểu đồng cho biết là một mệnh phụ rất hảo tâm. Hai thầy tỏ ý muốn đến chào và cảm tạ lệnh bà. Hai tiểu đồng liền dẫn hai thầy đến gặp bà chủ. Họ lên thang gác, qua những căn phòng lộng lẫy, đầy ngọc bảo sáng ngời, toả mùi thơm linh diệu. Khi tới căn phòng bà chủ ở, hai thầy gặp một mệnh phụ diễm lệ đong đả chào và hỏi các thầy đi đâu. Hai thầy trả lời là đi kính viếng một đền thờ Đức mẹ, thì bà tiếp:
- Thật là 1 dịp tiện, bao giờ các thầy lên đường, tôi muốn dính gửi 1 phong thư, phong thư này sẽ giúp các thầy rất nhiều.
Khi nghe bà nói, hai thầy thấy lòng bừng bừng lửa mến Chúa, tâm hồn tràn ngập vui sướng khôn tả. Rồi các thầy từ giã bà trở về phòng ngủ. Hôm sau hai thầy đến cám ơn bà và xin từ biệt. Bà trao cho hai thầy bức thư nói tối qua. Các thầy ra đi quãng đường khá xa mới nhận ra thư bà gửi không có địa chỉ người nhận, bèn trở lại tìm, nhưng vòng đi vòng lại mấy lần mà chẳng thấy lâu đài đâu cả. Sau cùng hai thầy bàn nhau mở thư xem nói gì và gửi cho ai. Đọc xong thư mới biết rõ người nói chuyện với mình tối hôm qua chính là Đức Mẹ, trong thư Mẹ thúc dục hai thầy cứ bền vững mến yêu Đức Mẹ và đoan hứa sẽ thưởng bội hậu những việc tôn dính các thầy đã làm để mến yêu Đức Mẹ, nhất là sẽ giúp đỡ giờ lâm chung. Cuối thơ có chữ ký: Mẹ là Trinh Nữ Maria.

12. YÊU MẸ KHÔNG?
Thánh Alponse Rodriguez có lòng yêu mến Ðức Mẹ chí thiết. Một hôm đang quì trước bàn thờ Mẹ. Ngài được Ðức Mẹ hiện ra đẹp đễ lạ lùng và hỏi:
-Alphonse, con có mến Mẹ không?
Thánh nhân giơ hai tay nói lớn : Ôi đất, trời, lạy Chúa! Con yêu mến Mẹ lắm. Vâng, con mến Mẹ; ai mà không mến Mẹ, một Ðấng đẹp đẽ tốt lành, thánh thiện như thế? Con mến Mẹ đến nỗi sẵn lòng hy sinh thịt máu, danh dự và cả mạng sống con nữa.
-Hỡi Alphonse, con có mến Mẹ thật không?
-Thưa Mẹ, thật, rất thật. Hỡi lòng con hãy nói lên vì lưỡi con không đủ tiếng biểu diễn. Lạy Mẹ chí thánh, Mẹ đừng hỏi điều ấy nữa, Mẹ biết con yêu mến Mẹ lắm.
Chưa lấy làm đủ; Ðức Mẹ lại hỏi Ngài lần thứ ba:
-Hỡi Alphonse, con có mến Mẹ thật không?
Lần này theo tính đơn sơ thật thà, Ngài trả lời:
-Lạy Mẹ, con yêu mến và con mến Mẹ hơn cả Mẹ yêu con nữa!
Trìu mến nhìn Alphones, Ðức Mẹ mỉm cười cầm lấy tay và yêu Ngài mà nói:
-Ðiều đó không đúng sự thật. Mẹ yêu thương con và những kẻ hết lòng làm tôi Mẹ hơn tất cả mọi quả tim các con hợp lại để yêu Mẹ điều đó không thể so sánh được.

13. SÉT ĐÁNH
Bên Pháp có một người giầu có, sáng trọng tên là Keriolet; một thời vang danh vì bê tha tội lỗi nhất vùng ấy; chàng ngổ ngáo từ thuở bé, cha mẹ đặt tên cho là đồ bất trị. Càng thêm tuổi, càng thêm độc ác, vì giỏi nghề võ nên ỷ sức
đánh đập bất cứ ai và đã giết chết nhiều mạng. Ra như khoái vui cho chàng là giết người cướp của. Mặc dầu rửa tội từ thuở bé, chàng tỏ ra chống báng đạo, chế diễu việc phượng thờ, xúc phạm đến Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể. Chàng đã dốc quyết bỏ Công Giáo, sạng tận Phương Động để gia nhập Hồi giáo, Thiên Chúa đã cảnh tỉnh nhiều lần: một hôm sét đánh ngả một cây bên cạnh nơi chàng đứng, chàng không khiếp sợ mà còn chửi Thiên Chúa. Rồi vào nhà lấy súng bắn lên trời để trả thù Thiên Chúa. Một lần khác, chàng đang ngủ thì sét đánh cháy mất nửa giường chàng nằm thế mà chàng vẫn sống phây phây, ngạo mạn trêu cơn nghĩa nộ Thiên Chúa. Một lần nữa đang cưỡi ngựa, phi như bay, sét liền đánh chết ngựa, làm chàng ngã quỵ, thế mà chàng vẫn sống phây phây, ngổ ngáo, ngạo mạn.
Đến thành Lộ Đức, thấy một linh mục đang trừ quỉ nhập vào 1 người, chàng tò mò đứng xem. Thấy quỉ tru trếu gầm thét trước khi ra, chàng đánh bạo hỏi quỉ:
-Sao đã mấy lần mày làm sét đánh sao tao không chết. Quỉ liền dùng miệng người bị quỉ ám mà trả lời:
-Đức Maria đã cứu chữa mày, nên mày mới thoát tay tao. Nếu không có bà ấy, đời mày đã tàn rồi con ơi! Mày coi chừng đó, còn nhiều dịp khác, liệu hồn đi con ơi!
Khi nghe quỉ nói sự thật, Keriolet mất cả hồn vía, một trật được ơn đánh động bên trong, chàng quì gối cảm tạ ơn Đức Mẹ đã cứu mình, rồi thống hối ăn năn quyết trở về đường chính, rồi sống đời cải thiện. Hôm sau chàng đi xưng tội rồi cởi bộ quần áo sang trọng, mặc đồ xấu đi hành hương viếng đền thờ Đức Mẹ, rồi vào nơi thanh vắng ăn chay hãm mình đánh tội cho đến chết. Suốt đời chàng hằng nhớ ơn Đức Mẹ đã cứu mình chỉ vì mỗi ngày chàng đọc một kinh Kính Mừng mà Mẹ chàng đã dạy chàng tử thuở bé, mặc dầu đã sống bê tha trong đống tội bao nhiêu năm trời, nhưng chẳng ngày nào quên bỏ việc nhỏ mọn mà mẹ đã căn dặn đó.

14. THÁNH RAYMONDÔ NONATÔ
Mẹ thánh Raymond Nonnat chết khi vừa sinh ra thánh nhân. Lúc còn nhỏ, Raymond vâng lời cha đi chăn chiên. Nhiều khi chiên đang ăn cỏ cậu vào nhà thờ gần đấy để cầu nguyện trước tòa Ðức Mẹ.
Một hôm, đang cầm trí thỏ thẻ với Ðức Mẹ, Raymond nghe thấy Ðức Mẹ nói:
-Hỡi Raymond, đừng sợ; từ nay Mẹ sẽ nhận con là con. Con hãy đặt hết tín nhiệm vào Mẹ.
Từ đó Raymond càng yêu mến Ðức Mẹ hơn. Mỗi lần trông thấy ảnh hoặc tượng Ðức Mẹ, cậu cảm thấy sung sướng vô cùng. Có lần không thể cầm mình được, Cậu kêu lên:
-Lạy Mẹ yêu quí của con.
Hàng ngày Raymond năng đến bàn thờ để cầu nguyện. Theo lời thân phụ cậu kể, nhiều lần ông đã thấy một thanh niên trông coi đoàn vật thay cho cậu. Thanh niên đó chính là Thiên Thần Ðức Mẹ sai đi coi chiên thay cho Raymond.

15. NHẬN MẸ THAY MẸ
Trong lịch sử thiết lập nhà dòng Chúa Giêsu ở Neapoli có kể một truyện như sau: Nhà quí phái trẻ tuổi người Tô-cách-lan, tên là Guilemo Elphinstone, hoàng thân của hoàng đế Giacôbê.
Sinh trưởng trong bè rối, ông đã nhiễm l
ây tất cả học thuyết lạc giáo. Nhưng ánh sáng trên trời đã cho ông dần dần khám phá ra cái giả dối của đạo ông theo. Ông sang Pháp. Ở đây ông nhờ một linh mục dòng Tên đồng hương giúp đỡ, và nhất là nhờ sự can thiệp của Đức Mẹ, nhận ra chân lý, ông đã từ bỏ lạc giáo và trở lại Công Giáo. Sau đó ông sang Roma.
Một hôm có người bạn thấy ông âu sầu thảm não, bèn hỏi duyên cớ thì Elphinstone trả lời: Đêm trước thân mẫu ông hiện đến bảo ông:
- Con ơi, con có phúc lắm vì đã gia nhập Giáo Hội chân thật! Phần mẹ, mẹ đã chết trong lạc giáo nên mẹ phải trầm luân đời đời...
Từ ngày đó, hơn bao giờ hết, ông gia tăng lòng sùng kính Đức Mẹ mà ông đã nhận làm mẹ thay mẹ trần gian. Mẹ Maria soi sáng cho ông vào dòng, ông hứa sẽ thực hiện ý định. Nhưng rồi ông lâm bệnh, buộc lòng phải đổi khí để tìm sức khoẻ. Ông đến Neapoli, đó là nơi Chúa định cho ông từ trần mà từ trần đang lúc là một tu sĩ. Vừa tới nơi, bệnh ông nặng thêm, nguy đến tính mạng. Ông thiết tha nài xin các bề trên nhận ông vào dòng. Trước Thánh Thể, lúc chịu của ăn đàng, ông tuyên khấn theo hiến pháp dòng Chúa Giêsu. Từ đó ông đem hết tâm lực để cảm tạ Mẹ Maria đã cứu ông khỏi bè rối, dẫn ông vào Giáo Hội Công Giáo, lại đưa vào nhà Chúa để ông được chết giữa các tu sĩ thân yêu. Trước cảnh hấp hối sốt sắng của người con yêu Đức Mẹ ấy, những anh em tu sĩ chứng kiến đều cảm động. Ông kêu lên:
- Ôi xinh đẹp biết bao được chết giữa các thiên thần này.
Người ta bảo ông nghỉ một chút, ông trả lời:
- A, đây chưa phải là lúc nghỉ, tôi sắp bước bước cuối cùng đời tôi. Khi sắp trút hơi ông nói với các tu sĩ vây chung quanh:
- Anh em ơi, anh em có trông thấy các thiên thần từ trời xuống để giúp tôi không? Một tu sĩ thấy ông lẩm nhẩm mấy lời nhỏ nhẹ hỏi, thì ông trả lời:
- Thiên thần bản mệnh vừa cho tôi biết: tôi sẽ chỉ qua luyện tội ít thôi, rồi sẽ được lên thiên đàng.
Sau đó, ông thỏ thẻ cùng Đức Mẹ và nhắc đi nhắc lại: “Mẹ ơi, Mẹ ơi” với thái độ ngây thơ như trẻ nhỏ sa vào lòng mẹ âu yếm mà ngủ, ông tắt hơi an bình.
Ít lâu sau, một thầy dòng thánh thiện được thị kiến thấy thầy Elphinstone đã lên thiên đàng.

16. KINH KÍNH MỪNG CHE ĐẠN
Một binh sĩ Pháp tên là Beauséjour có thói quen mỗi ngày đọc 7 kinh Lạy Cha, 7 Kinh Kính Mừng kính bảy sử đau thương của Mẹ, anh giữ thói lành này tử nhỏ, chưa có ngày nào bỏ. Nếu hôm nay quên, thì thức dậy bất chợt
lúc nào, nhớ đến là đọc bù ngay. Beauséjour gia nhập quân đội và phải đi hành quân, anh liền làm dấu đọc kinh trước khi giao chiến. Một số binh sĩ khác trông thấy chàng đọc kinh thì cười và chế nhạo, cho là nhát đảm, đàn bà! Mặc ai nói ngả nói nghiêng, Beauséjour cứ tiếp tục đọc kinh sốt sắng. Vừa đọc kinh xong thì quân địch nhả đạn bất ngờ, các binh sĩ tiền phong làm một với chàng đã ngã quỵ hết, trừ một mình chàng. Beauséjour khiếp sợ trước xác các đồng bạn vì đã có sự khinh chê việc làm tôn kính Đức Mẹ và chàng cũng tin được Mẹ giữ an toàn. Khi hòa bình được tái lập Beauséjour được gỉai ngũ, chàng vui sướng trở về quê hương tường thuật mọi sự cho bà con và xin mọi người cùng chàng chung lời ngợi khen và cảm tạ Mẹ.

17. NGƯỜI CHẾT HIỆN VỀ
Tại thành Cologna, Đức, có một phụ nữ đã chết và hiện về cùng một chị bạn để xin chị này biên tên mình vào Hội Mân Côi ở Cologna. Chị bạn thắc mắc tại sao chết rồi còn cần gì vào Hội Mân Côi nữa, thì được trả lời mình sẽ
bị giam ở luyện tội 15 năm nữa, nếu có biên tên vào Hội Mân Côi, sẽ được nhờ ơn ích và công nghiệp các hội viên lần hạt mọi ngày, và chắc chắn sẽ được mau ra khỏi luyện tội.
Người chết đã nài nỉ để được biên tên vào Hội Mân Côi ngay đừng từ chối. Chị bạn làm theo ý người chết xin. Sau 15 ngày, người chết lại hiện về nói với chị bạn: Án phạt của mình là trong luyện hình, nhưng vì công nghiệp các hội viên Hội Mân Côi siêng năng lần hạt, Chúa đã giảm bớt hình phạt chỉ còn 15 ngày mà thôi.

18. CỨ TIN SẼ ĐƯỢC
Vào cuối thế kỷ 19, nước Phổ và nước Nga giao chiến, mà vì nước Phổ nhỏ bé nên bị nước Nga lấn át và xâm chiếm, mặc dầu bại trận, quân dân Phổ thỉnh thoảng nổi dậy và chống lại đế quốc Nga. Trong số anh hùng dân tộc đó có ôn
g Solinky, nhưng ông đã bị quân Nga tóm cổ. Bà vợ ở nhà khóc lóc thương chồng, liền dắt con trai đầu, tên là Stanilao mới lên 10 tuổi đi thăm chồng tại ngục thất,, nhưng trước khi lên đường, hai mẹ con đã vào nhà thờ quỳ trước tòa Đức Mẹ nỉ non van nài Mẹ cứu giúp gia đình mình, để gia đình mau được đoàn tụ.
Đến ngục thất, bà đút tiền cho lính canh để được vào nói chuyện với chồng. Lợi dụng dịp tốt, bà đã dổi áo cho chồng để chồng dắt con ra đi, còn mình thì ở lại thế chân chồng. Stanislao đến Paris được ba cho đi học. Cậu chuẩn bị để rước lễ lần đầu và mong mỏi má về đúng ngày hồng phúc của cậu, nên cậu đặt hết tin tưởng vào Đức Mẹ và tha thiết nài xin mỗi ngày. Phần ông Solinky thì nhận được thư của anh bạn đang nuôi vợ trong ngục cho biết: Bà phải án lưu trong rừng Sibêria đến trọn đời. Nên ông hầu tuyệt vọng nhưng chẳng dám báo tin cho con. Riêng phần Stanislao lại khác, cậu tin chắc chắn má cậu sẽ về kịp ngày cậu rước lễ lần đầu.
Trước ngày hồng phúc đó, cậu cứ mong đợi má đến. Lạ thay chập tối hôm đó, có một bà ăn mặc xộc xệch vào nhà khách xin gặp Stanislao. Người coi cổng chưa cho vì đã tối. Bà xin đứng đợi ở cửa. Sau cơm tối, Stanislao để mắt ngó sang cửa nhà khác, thì trông thấy má, liền chạy ra ôm chồm lấy. Mẹ con vui mừng khôn xiết, nước măt chan hòa. Bà kể cho con hay, đáng lẽ má bị án chung thân trên rừng Sebêria, nhưng dọc đường nhờ Đức Mẹ, đã trốn thoát được.

19. CHÓ SÓI NÊN CHIÊN
Anrê Corsini ngay từ thuở mới sinh đã được cha mẹ giáo dục cách đặc biệt. Mẹ Anrê đã dâng con cách riêng cho Ðức Mẹ và hướng dẫn con trên đường đạo đức. Nhưng vừa khôn lớn, Anrê đã bị ảnh hưởng những trẻ em vô giáo dục mà
trở nên hư đốn chơi bời, dâm đãng. Cha mẹ cậu hết sức đau buồn, đêm ngày thiết tha cầu xin cho con mình được cải thiện.
Một hôm, bà vừa khóc vừa bảo con:
Anrê con ơi, con chính là con chó sói mà mẹ đã mơ thấy ngày xưa. Trước khi sinh con mẹ nằm mơ thấy một con chó sói nó chạy vào nhà thờ Ðức Mẹ ở Carmes, khi trở ra, nó đã trở nên hiền lành như con chiên.
Cha mẹ đã hiến dâng con cho Ðức Mẹ. Nhưng cách con ăn ở rõ ràng đúng như giấc mộng mẹ đã thấy, ít là phần đầu của giấc mộng. Ôi mẹ sẽ sung sướng dường nào nếu trước khi nhắm mắt, mẹ được xem thấy thực hiện nốt cả phần hai.
Những lời van tha thiết đó đã làm Anrê cảm động. Biết mình đã thành con riêng của Ðức Mẹ, Anrê lo cải thiện đời sống, tránh xa dịp tội, và ít lâu sau, Corsini đã từ giã thế gian vào dòng Carmes, sau đã trở thành một vị thánh giám mục.

20. NHỮNG LẦN MẸ HIỆN RA
Tại sao cho đến thế kỷ 20 này, vào ngày 13/6 và 13/7/1917, qua Mẹ Maria, Thiên Chúa mới tỏ ý “muốn thiết lập việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới”?
Phải chăng: Đã đến thời tận thế?
Thật vậy, theo thánh Louis Marie Grignion De Monfort, “Ơn cứu rỗi của thế giới nhờ Mẹ Maria được khởi sự thế nào thì cũng qua Mẹ Maria mà được hoàn tất như vậy... Là đường
để Chúa Giêsu đến với chúng ta lần thứ nhất thế nào, Mẹ cũng là đường để Ngài đến lần thứ hai như vậy, tuy không cùng một kiểu cách” (TTSKMM, 49, 50.4).
Như thế, phải chăng, hễ bất cứ lúc nào con người thấy Thiên Chúa bắt đầu muốn tỏ Mẹ của Ngài ra cho thế giới biết thì lúc ấy chính là thời tận thế?
Không phải hay sao, tại Fatima, chính Mẹ đã tỏ cho con người biết rằng: “Thiên Chúa muốn (dùng con, chị Lucia) để làm cho Mẹ được nhận biết và yêu mến... Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới”.
Do đó, có thể tin rằng đây là thời tận thế vậy!?!
Vả lại, còn một sự kiện nữa có thể chứng minh được rằng đây là thời tận thế. Đó là sự kiện xuất hiện của Thiên Thần tại Fatima năm 1916, trước năm 1917 là năm Mẹ hiện ra với ba Thiếu Nhi cũng tại Fatima. Tại sao sự kiện Thiên Thần hiện ra ở Fatima lại có liên hệ đến thời gian sau hết của loài người như thế? Bởi vì, trong dụ ngôn cỏ lùng vực, Chúa đã nói đến vai trò của các thiên thần là “những thợ gặt” (Mathêu 13:39) trong ngày cuối thời.Trong ngày truyền tin Ngôi Lời nhập thể, tức ngày Chúa Kitô đến trần gian lần thứ nhất trong, qua và nhờ cung lòng trinh nguyên của Mẹ Maria, không phải cũng đã có mặt của thiên thần hay sao.
Các thiên thần đã thực hiện sứ mạng làm “những thợ gặt”của mình ở chỗ, chỉ vẽ cho con cái của Giáo Hội nói chung và cho con cái của Mẹ như ba Thiếu Nhi được Mẹ tuyển chọn nói riêng, biết hợp cùng Mình Máu Thánh của Chúa Kitô đã được cấu tạo và hạ sinh bởi Mẹ Maria, để tin yêu Thiên Chúa thay cho các tội nhân cũng như để đền tạ Ngài cầu cho các tội nhân. Nếu các con cái của Mẹ làm đúng như lời thiên thần dạy, như Mẹ đã “xin vâng” như lời thiên thần truyền, chắc chắn các tội nhân sẽ được Thiên Chúa cứu rỗi. Như thế, không phải là các thiên thần đã gặt hái các linh hồn trong thời tận thế này hay sao!
Thật sự, theo Thánh Kinh, “thời sau hết” bắt đầu kể từ khi “Ngôi Lời hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta” (Gioan 1:14): “Vào những thời đã qua, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà nói với cha ông chúng ta qua nhiều thể nhiều cách; vào thời sau hết này Ngài đã nói với chúng ta qua Con của Ngài..”(Do Thái 1:2).
Bởi thế, những đoạn Thánh Kinh Tân Ước nói về những gì xẩy ra vào “những ngày sau hết” (2Phêrô 3:3; 2Timôthêu 3:1) hay vào “giờ sau hết” (1Gioan 2:18) không phải chỉ nói đến những gì xẩy ra cho riêng ngày tận thế, cho bằng nói đến chung những gì xẩy ra cho Giáo Hội kể từ khi Chúa Kitô về trời. Chẳng hạn, câu “Hỡi các con, vào thời giờ sau hết, như các con đã nghe thấy những Phản Kitô đã đến, lúc này đây nhiều Phản Kitô như vậy đã xuất hiện rồi. Như thế là chúng ta nắm chắc được rằng đây là thời giờ sau hết” (1Gioan 2: 18). Ở đây, Thánh Kinh xác định r “Phản Kitô đã đến... đã xuất hiện”, vào chính thời những câu văn này được viết ra từ thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên.
Nếu bắt đầu kể từ khi Thiên Chúa tỏ Mình Ngài ra qua Ngôi Lời nhập thể và cứu thế được gọi là “thời sau hết”, thì kể từ lúc Chúa Kitô muốn tỏ Mình Ngài ra qua Mẹ của Ngài, tức muốn Mẹ Ngài được nhận biết và yêu mến để Ngài, như thánh Louis Maria Grignion De Monfort viết trong cuốn Thành Thực Sùng Kính: ”Vào lần Chúa Giêsu đến lần thứ hai, Chúa Thánh Thần sẽ làm cho Mẹ Maria được biết đến và tỏ hiện, để, qua Mẹ, Chúa Giêsu cũng được nhận biết, yêu mến và phụng sự” (TTDTM,49), cũng có thể được gọi là “thời tận thế”. Do đó, “thời tận thế” có thể nói được là “Thời của Mẹ” hay “Thời Đại Maria”.
Đây không phải là Thời của Mẹ Maria, là Thời Đại Maria hay sao? Ba sự kiện sau đây có thể chứng minh được quả quyết này. Sự kiện thứ nhất là những lần Mẹ hiện ra (được Giáo Hội chính thức công nhận) từ đầu thế kỷ 19 đến nay. Sự kiện thứ hai là các tín điều về Mẹ được Giáo Hội tuyên tín và công bố. Và sự kiện thứ ba là phong trào tượng Mẹ Thánh Du khắp thế giới. Trong chương này chỉ nói đến những lần Mẹ hiện ra từ đầu thế kỷ 19 mà thôi.
Trong 18 thế kỷ đầu của lịch sử Giáo Hội, Đức Mẹ chỉ hiện ra một số lần, nếu tổng cộng lại, còn ít hơn số lần Mẹ hiện ra vào khoảng thời gian hai thế kỷ của “thời tận thế” này. Chẳng hạn: Cuối thế kỷ thứ 12, Mẹ đã hiện ra hai lần vào năm 1198 và 1199. Năm 1198, với thánh Simon Stock và năm 1199 với thánh Đa- Minh. Với thánh Simon Stock, Đức Mẹ hiện ra tại nơi ngài ẩn tu 20 năm, vào lúc 12 giờ trưa ngày 12/5, để giới thiệu Áo Đức Bà và truyền cho đi phổ biến cho người ta. Với thánh Đaminh, Đức Mẹ đã hiện ra vào tháng 5 khi ngài đang ở một miền núi nước Tây Ban Nha, đưa cho ngài chuỗi Mân Côi, dạy cho ngài biết sử dụng kinh Mân Côi đẻ làm khí giới chống bè rối Albigense.
Vào thế kỷ 16, năm 1531, Mẹ hiện ra với Juan ở Guadalup, nước Mễ Tây Cơ để xin dựng một đền thờ kính Mẹ, nơi mà Mẹ muốn dùng để ban ơn cho những ai đến cầu khẩn Mẹ.
Vào thế kỷ 17, Mẹ đã hiện ra với chị đáng kính Maria D'Agreda trong khoảng thời gian 1627-1637 để tỏ và dạy cho mẹ bề trên tu viện thánh Clara Khó Khăn Mẹ Vô Nhiễm này biết về cuộc đời của Mẹ. Tất cả những gì được Mẹ mạc khải cho biết, chị đã viết lại thành truyện về cuộc đời Mẹ với tựa đề Thiên Nhiệm Đô.
Thế mà, kể từ đầu thế kỷ 19, nếu chỉ kể đến những nơi được Giáo Hội chính thức công nhận, Mẹ đã hiện ra liên tiếp nhiều lần, mỗi lần Mẹ ban những sứ điệp hệ trọng liên quan đến vận mệnh của riêng một dân nước hay của chung cả loài người.
NĂM 1830, Ở BA-LÊ, nước Pháp, Mẹ đã hiện ra với một chị tập sinh thuộc dòng Nữ Tử Bác Ái thánh Vinh-Sơn Phao-Lô là Catarina Labuarê,(vị nữ tu đã được Đức Thánh Cha Piô XII phong thánh năm 1947 và được Giáo Hội kính nhớ hằng năm vào ngày 28-11), ba lần, lần thứ nhất vào 11 giờ 30 đêm ngày 18 cho đến 1 giờ 30 sáng ngày 19 tháng 7, lần thứ hai vào ngày Thứ Bảy 27 tháng 11, và lần thứ ba vào tháng 12 cùng năm để hỏi chị về việc mà Mẹ đã trao cho chị.
Vào lần hiện ra thứ nhất, Đức Mẹ đã nói với chị như sau:
“Những điều khủng khiếp sắp xẩy ra ở nước Pháp. Ngai vàng sẽ bị hủy hoại và cả thế giới sẽ bị kinh động vì những tai ương rùng rợn ... Thánh giá sẽ bị chà đạp ... Máu sẽ chảy trên đường phố... Thế giới chìm ngập trong sầu thảm...” (TWSC: 17-18)
Vào lần hiện ra thứ hai, Đức Mẹ đứng trên quả cầu, đồng thời cũng cầm trên tay một quả cầu nhỏ có thánh giá trên đầu quả cầu, và nói:
“Quả cầu mà con thấy đây là thế giới. Mẹ vẫn cầu nguyện cho nó và cho mọi người trong thế giới này...” (TWSC:19). Thế rồi, sau đó, quả cầu trên tay Mẹ biến đi, hai tay Mẹ xuôi xuống, và Mẹ được bao quanh bằng một vòng trái xoan với hàng chữ: “Ôi Maria đầu thai vô nhiễm tội, cầu cho chúng con chạy đến cùng Mẹ” (TWSC:19). Chị nghe thấy tiếng nói với chị: “Hãy theo hình ảnh này mà làm một mẫu ảnh bằng kim loại. Tất cả những ai đeo nó sau khi được làm phép sẽ lãnh nhận được nhiều ơn, nhất là khi họ đeo nó ở cổ” (TWSC:19).
NĂM 1846, Ở LA SALETTE, cũng nước Pháp, Mẹ đã hiện ra với hai thiếu niên là Melanie Mathieu (nữ, 14 tuổi) và Maximin Giraud (nam, 11 tuổi) vào ngày Thứ Bảy, 19-9.
Khi hiện ra với hai thiếu niên này, Đức Mẹ đã than thở, kêu gọi và chỉ dạy những điều sau đây:
“Hỡi các con của Mẹ, đừng sợ, hãy đến đây với Mẹ. Mẹ đến để cho các con biết những điều quan trọng. Nếu các con không nghe lời Mẹ, thì Mẹ đành phải buông cánh tay Con của Mẹ. Cách tay của Ngài đè nặng đến nỗi Mẹ không còn cản lại được nữa. Mẹ còn phải chịu khổ vì các con đến bao giờ... Cầu nguyện thật là khẩn thiết, cả sáng lẫn tối. Nếu các con không có giờ, tối thiểu hãy đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng. Nếu có giờ, hãy đọc nhiều hơn” (TWSC:41-43,45-46)
Sau khi Mẹ hiện ra với 2 thiếu niên này, Đức Thánh Cha Piô IX muốn biết về Bí Mật La Salette. Trong khi viết ra những điều bí mật theo ý muốn của Đức Thánh Cha, Melanie đã hỏi về ý nghĩa của chữ “vô ngộ” và xin đánh vần cho chữ “phản Kitô”. Sau khi đọc những điều hai thiếu niên này viết, Đức Thánh Cha đã nói với những kẻ muốn biết về bí mật như sau: “Các con muốn biết bí mật này ư? Nó là thế này: 'Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, tất cả các ngươi sẽ bị tiêu diệt'”.
NĂM 1858, Ở LỘ-ĐỨC, một lần nữa cũng tại nước Pháp, Mẹ đã hiện ra với một em gái 14 tuổi tên là Bernadette Soubirous, (sau này được Đức Thánh Cha Piô XI phong thánh năm 1933, và được Giáo Hội kính nhớ hằng năm vào ngày 16-4), 18 lần, từ ngày 11 tháng 2 đến 16 tháng 7.
Sứ điệp của Mẹ trong những lần hiện ra tại đây là:
Vào ngày 18/2: “Ta không hứa làm cho con được hạnh phúc ở đời này, mà là ở đời sau” (THAL:88);
- Vào ngày 24/2: “Hãy hối cải, hối cải. Hãy cầu nguyện cùng Chúa cho các tội nhân và hãy ăn năn hôn đất cầu cho các tội nhân trở lại” (THAL:96);
- Vào ngày 25/3: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội” (THAL:113).
NĂM 1917, Ở FATIMA, nước Bô Đào Nha, Mẹ đã hiện ra với ba Thiếu Nhi là Giaxinta (nữ, 7 tuổi), Phanxicô (nam, 9 tuổi) và Lucia (nữ, 10 tuổi) sáu lần, năm ngày 13/5-6-7-9-10 và một ngày 19/8.
Theo chị Lucia thuật lại trong Hồi Ký của chị, lần hiện ra nào Mẹ cũng kêu gọi "hãy lần hạt Mân Côi hằng ngày". Mục đích lần hạt Mân Côi này, như Mẹ nói, là "để cầu cho hòa bình thế giới".
Lần hiện ra thứ hai, Mẹ cho biết ý Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới.
Lần hiện ra thứ ba, Mẹ cho ba Thiếu Nhi thị kiến thấy hỏa ngục và tiết lộ ba Bí Mật.
Lần cuối cùng, Mẹ xưng mình: “Ta là Đức Mẹ Mân Côi”, rồi Mẹ làm phép lạ cho mặt trời nhẩy múa để mọi người tin.
NĂM 1932 VÀ 1933, Ở BEAURAING, nước Bỉ, Mẹ đã hiện ra với năm em học sinh, 4 nữ và 1 nam, đó là Fernande (15 tuổi), Andree (14 tuổi), Gilberte Voisin (13 tuổi), Albert (11 tuổi), Gilberte Degeimbre (9 tuổi), 33 lần, từ ngày 29/11/1932 đến 3/1/1933.
Sứ điệp Mẹ đã ban vào những lần hiện ra với một số điều quan trọng như:
- Vào ngày 21/12/1932: “Mẹ là Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội” (AWCWTS:225);
- Vào ngày 30/12/1932: “Hãy cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều” (AWCWTS:226);
- Vào ngày 1/1/1933: “Hãy luôn luôn cầu nguyện” (AWCWTS:226).
- Lần cuối cùng, 3/1/1933, Đức Mẹ nói với Gilberte Voisin: “Mẹ sẽ làm cho các tội nhân ăn năn hối cải”, với Andree: “Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Nữ Vương Thiên đàng. Hãy luôn cầu nguyện” (AWCWTS:227).

21. BOM THÀNH TRÀNG HẠT
Báo Reinado De S.C. số 252 bên Tây Ban Nha đã thuật lại câu truyện sau đây.
Trong một dịp đại lễ ở Fatima, Bồ Ðào Nha, hai tên phản động dự tính ném bom vào đám quần chúng và tự nhủ thầm: "Ðể xem ai cứu chúng nó. Phải
chăng người Trinh Nữ? Ồ, truyện mơ hồ nhảm nhí của bọn mê tín."
Hắn chuẩn bị bom sẵn ở va-li đợi anh bạn lên hiệu là ném mạnh vào quần chúng. Ðược hiệu lệnh, hắn moi của giết người ấy ra, thì lạ lùng thay, nó đã trở thành tràng hạt. Hắn ngơ ngác không sao nói ra lời.
Bạn hắn lại báo hiệu, nhưng vẫn không thấy hắn thi hành. Anh chàng bực quá tiến lại hỏi hắn thì chỉ được hắn trả lời cụt ngủn khó hiểu: "Tôi đã thấy. . . Tôi đã thấy. . ."
Câu chuyện này đã chuyển mau lẹ đến tai mọi người, còn anh chàng trót dại đã ăn năn thống hối, về sau đã tạc một tượng Ðức Mẹ giống tượng anh xem thấy khi toan ném bom.
Tượng thánh đó, theo lời truyền lại, hiện thời đang ở chính nhà nguyện Ðức Mẹ hiện ra và theo tạp chí Petit Message du Coeur de Marie thì ngày 13-5-1946, Ðức Hồng Y Aloivsi Mazella đại diện Ðức Thánh Cha đẵ đặt triều thiên cho tượng đó và tôn làm Nữ Vương Thế giới.

22. MẸ THÍCH ĐƠN SƠ
Cậu Hermann Giuse con nhà nghèo, nhưng rất đơn sơ trong sạch và có lòng yêu mến Ðức Mẹ tha thiết. Mỗi lần đi học, cậu thường vào nhà thờ viếng Chúa và Mẹ.
Một hôm trời lạnh, run cầm cập, cậu vào quì trước tượng Ðức Mẹ, bỗng Ðức Mẹ thỏ thẻ hỏi Hermann:
Trời rét như thế sao con không đi giầy?
Cậu vui mừng đơn sơ đáp lại:
Thưa Mẹ, nhà con nghèo lắm, không có tiền mua giầy.
Vì trong sạch, đơn sơ và chất phát, cậu được Ðức Mẹ thương cách riêng, đã chỉ cho cậu một hòn đá ngoài sân nhà thờ và dặn: Hễ khi nhà con bị túng thiếu, cứ ra đó, nhắc hòn đá lên mà lấy tiền để mua giầy và các vật dụng cần thiết.
Một lần khác, mẹ cậu cho cậu một trái táo, cậu thích lắm, nhưng nhất định không ăn, bỏ vào túi để khi đến trường, vào nhà thờ tặng cho Ðức Mẹ thay vì dâng hoa đồng nội như mọi ngày. Bất ngờ Ðức Mẹ bế Chúa Con cúi rạp xuống trên Hermann, giơ tay đón nhận quả táo cậu dâng, rồi trao cho Chúa Hài Nhi nắm giữ. Hermann sung sướng hết sức. Từ đó cậu cố gắng sống nết na đạo hạnh hơn để làm đẹp lòng Ðức Mẹ và Chúa Hài Nhi.

23. KẺ MÙ ĐỤNG ÁO MẸ
Năm 1928, có một bà nội trợ ngụ tại Marsi thành Rôma có cô con gái tên là Emma bị chứng sưng màng mắt và sau bốn năm trở nên mù hoàn toàn. Cha mẹ em buồn rầu ảo não, đêm ngày hằng câu xin Chúa và Ðức Mẹ ban cho em được gặp
bác sĩ lành nghề chửa em khỏi mù, nhưng tất cả đều thất vọng.
Một hôm chiều Chúa Nhật, vào hồi 2 giờ nhà thờ vắng người, cha Romeo Marutri, cha sở của giáo xứ, dẫn em Emma đến trước tòa Mẹ và đưa cho em một bó hoa để dâng Ðức Mẹ. Rồi cha quì gối bên em trước tượng Mẹ để cầu xin. Bà Buzzi đang quì dưới ghế, thấy em bé quờ quạng đặt bó hoa, bà tiến lại bàn thờ cầm tay em giúp em đặt bó hoa vào chân tượng Mẹ. Rồi bà hỏi em:
Con không thấy gì sao?
Thưa bà không, nhưng con vừa cầu xin Ðức Mẹ cứu chữa mắt con. Bà Buzzi liền nâng người em bé lên sát chân tượng Ðức Mẹ, lấy tấm áo thêu mà Mẹ đang choàng rất đẹp lau qua lau lại trên mắt em Emma. Bỗng em Emma kêu to: "Con đã trông thấy Ðức Mẹ! Con đã trông thấy Ðức Mẹ!"
Và quả thật, em đã khỏi mù hoàn toàn. Ngày hôm sau bác sĩ Gabazzi đã khám xét kỹ và làm chứng đó là thật 100%.

24. BÔ-RANH, BỈ
“Tại đây, dưới bụi táo gai, trong những lần hiện ra sau cùng, Đức Trinh Nữ đã tỏ Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ ra.”
Sau sự kiện Fa-ti-ma, một “dấu chỉ khác đã được ban cho thế hệ này.” Năm 1932 tại Bô-ranh (Beauraing), Đức Trinh Nữ
hiện ra cả thảy 33 lần từ ngày 29 tháng 11 năm 1932 đến ngày 3 tháng 1 năm 1933.
Nụ cười của Đức Mẹ đã lôi cuốn năm trẻ em thuộc hai gia đình khô đạo. Gia đình thứ nhất với hai em gái và một em trai, còn hai em gái khác thuộc gia đình kia. Gia đình sau này có người con gái thứ ba không được nhìn thấy Đức Mẹ lần nào.
Bốn trong số năm trẻ ấy hiện vẫn còn sống. Và một bà mẹ của họ cũng còn sống. Người thứ năm đã qua đời hồi tháng 6 năm 1978. Một trong bốn người được thụ khải còn sống là một quả phụ. Tất cả năm người đều lập gia đình, họ tỏ ra khôn ngoan, can đảm và hoàn toàn vô vị kỷ. Họ vẫn hoàn toàn trung thành với Đức Mẹ và thánh địa của các cuộc thị kiến, nơi có tên là “Khu Vườn.”
Khu Vườn là khoảng sân chơi của một trường học. Bắt đầu từ buổi hiện ra lần thứ ba vào buổi chiều tối, các trẻ được thị kiến Đức Mẹ dọc theo con đường bên cạnh bụi táo gai trong khu vườn. Các trẻ lúc đầu rất nghi hoặc, không thể ngờ rằng mình cũng được diễm phúc làm những Bê-na-đê-ta.
Năm 1942, đức cha Xa-vơ (Charve, + 1977) tạm thời chuẩn nhận các việc sùng kính Đức Mẹ đặc biệt tại Bô-ranh, và đến năm 1949 ngài đã chính thức công nhận tính xác thực của sự kiện.
Trong suốt sáu lần hiện ra sau cùng, Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Ma-ri-a là đặc trưng nổi bật nhất, là dấu chỉ và sứ giả cho các giá trị của con tim trong đời sống đức tin và đời sống gia đình ngày nay.
Đức Trinh Nữ đã xưng mình với các trẻ:
“TA LÀ TRINH NỮ VÔ NHIỄM THAI” (21/12/1932).
“TA LÀ MẸ THIÊN CHÚA, NỮ VƯƠNG THIÊN ĐÀNG” (3/1/1933).
Trong ba lần hiện ra, Đức Mẹ đã yêu cầu:
“HÃY CẦU NGUYỆN NHIỀU - CẦU NGUYỆN LUÔN LUÔN.”
Đức Ma-ri-a yêu cầu Giáo Hội xây “MỘT NGUYỆN ĐƯỜNG” (17/12/1932) “CHO NGƯỜI TA ĐẾN ĐÂY HÀNH HƯƠNG” (23/12/1932).
Mẹ nói với chúng ta về Phúc Âm, “CÁC CON CÓ YÊU MẾN CON MẸ KHÔNG? CÓ YÊU MẾN MẸ KHÔNG? VẬY HÃY HY SINH CHO MẸ. VĨNH BIỆT CÁC CON” (3/1/1933).

25. BAN-NƠ, BỈ
Năm 1933 Đức Mẹ Người Nghèo đã hiện ra nhiều lần tại Ban-nơ (Banneux), một thị trấn nhỏ cách thành phố Li-e (Liège) chừng hai mươi lăm cây số.
Đức Mẹ hiện ra với trẻ Ma-ri-ê-ta Bê-cô (Mariette Beco), mười một tuổi. Bê-cô là co
n đầu lòng của một gia đình nghèo có bảy người con, sống ven một rừng thông.
Đức Mẹ đã hiện ra tám lần cả thảy, từ ngày 15 tháng 1 đến ngày 2 tháng 3 năm 1933. Và tất cả tám lần đều xảy ra quãng 7 giờ tối.
Tại Ban-nơ người ta có lòng tôn sùng Đức Ma-ri-a đặc biệt. Nhiều người và cả những đoàn người đau khổ đến đây hành hương. Người ta truyền bá sứ điệp từ các lần Đức Trinh Nữ đến thăm viếng và truyền dạy trẻ Ma-ri-ê-ta.
Chúng ta hãy hưởng nhờ những ơn ích từ sự kiện thăm viếng và nghe theo sứ điệp của Mẹ như lời vọng vang từ Phúc Âm. Năm 1949, Giáo Hội qua đức giám mục Cơ-hốp (Kerkhofs) thuộc giáo phận Li-e đã chính thức công nhận tính cách xác thực của sự kiện Ban-nơ. Mấy dòng ký sự về những lần Đức Mẹ hiện ra có lẽ sẽ ích lợi cho chúng ta.
* Chúa Nhật, ngày 15 tháng 1 năm 1933
Trong ánh sáng rạng ngời, Đức Trinh Nữ Rất Thánh đã cầu nguyện và mỉm cười với Ma-ri-ê-ta rồi tiến đến với em.
* Thứ Tư, ngày 18 tháng 1 năm 1933
Lần này sau khi cầu nguyện hồi lâu, Đức Trinh Nữ Rất Thánh dẫn Ma-ri-ê-ta đến bên suối nước và nói: “Hãy nhúng tay con vào nước. Suối nước này được dành riêng cho Mẹ. Chúc con ngủ ngon. Tạm biệt con.”
* Thứ Năm, ngày 19 tháng 1 năm 1933
Ma-ri-ê-ta hỏi: “Thưa Bà Đẹp, Bà là ai?” Đức Trinh Nữ trả lời: “Mẹ là Đức Trinh Nữ của Người Nghèo.” Và sau đó Mẹ dẫn em đến suối nước lần thứ hai và nói: “Suối nước này được dành cho mọi quốc gia, để giúp đỡ những người nghèo. Mẹ sẽ cầu nguyện cho con. Tạm biệt con.”
* Thứ Sáu, ngày 20 tháng 1 năm 1933
Đây là lần thứ tư Đức Mẹ dẫn trẻ Ma-ri-ê-ta ra suối nước. Mẹ nói: “Con nhỏ yêu dấu của Mẹ, con hãy cầu nguyện nhiều. Tạm biệt con.”
* Thứ Ba, ngày 2 tháng 3 năm 1933
“Ta là Mẹ Đấng Cứu Thế, Mẹ Thiên Chúa. Con hãy cầu nguyện nhiều. Vĩnh biệt con.” Nhưng trước khi vĩnh biệt, Đức Trinh Nữ đặt tay và làm dấu Thánh Giá chúc lành cho Ma-ri-ê-ta như ngày 20 tháng 1.

26. MỐI QUAN TÂM CỦA ĐỨC MẸ: PHẦN RỖI CỦA CÁC LINH HỒN
Đọc lại các bản tường thuật những lần Đức Mẹ hiện ra tại Fatima năm 1917, khi ban truyền 3 mệnh lệnh cho nhân loại qua Lucia, Jacinta và Phanxicô, người ta nhận ra mối quan tâm hàng đầu của Đức Mẹ là phần rỗi các linh hồn rồi mới đến hòa bình cho thế giới và việc ngăn chặn làn sóng vô thần.
Ngay từ lần thứ ba Đức Mẹ hiện ra, ngày 13-7 năm ấy, Đức Mẹ đã cho ba trẻ được thị kiến hỏa ngục, nơi đó các thần dữ đang bị thiêu đốt như các cục than hồng, vô số linh hồn kẻ tội lỗi bị gia hình trong đó, bị tung lên rớt xuống như những tàn than không trọng lượng. Những hình ảnh khủng khiếp này đã in rất sâu đậm vào tâm trí các em như không bao giờ quên nổi. Các em đã thay đổi hẳn nếp sống cũ, trở nên rất chăm chỉ đọc kinh cầu nguyện và làm nhiều việc hy sinh hãm mình để đền tội và cầu cho nhiều tội nhân thống hối. Nhiều lần Jacinta đã nhịn ăn kiêng uống để cầu cho kẻ tội lỗi ăn năn. Các bạn của em có mời em ăn, em chỉ trả lời: “Không, tôi muốn dâng hy sinh này để cầu cho kẻ có tội, kẻ đã mê ăn quá độ”. Được mời dùng đồ uống, cô bé cũng trả lời: “ Không, tôi không uống để cầu cho kẻ đã từng uống say sưa”.
Đặc biệt trong lần hiện ra ngày 13-7, Đức Mẹ còn day cho ba em một lời cầu nguyện vắn tắt để đọc thêm vào sau mỗi chục kinh mân côi. Còn lời kinh nào tha thiết hơn diễn tả rõ mối quan tâm của Mẹ tới phần rỗi chúng ta bằng kinh này: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội lỗi chúng con, xin gìn giữ chúng con khỏi lửa hoả ngục. Xin đưa các linh hồn về Thiên Đàng, nhất là những linh hồn cần Chúa thương xót hơn.”
Ai trong chúng ta cũng biết và thâm tín rằng hỏa ngục là hình phạt ghê sợ mà nguyên nhân đã tới hỏa ngục là tội lỗi... nên Mẹ dạy chúng ta trước nhất phải xin Chúa gìn giữ chúng ta khỏi xúc phạm tới Người, nhưng nếu đã trót xúc phạm thì hãy xin Người ơn thứ tha, để chúng ta khỏi sa vào chốn trầm luân đời đời, không được chiêm ngắm nhan Chúa là nguồn gốc hạnh phúc, chân thiện mỹ!
Kế đến, Mẹ cũng dạy chúng ta nài xin Chúa đưa về quê trời nhiều linh hồn. Các linh hồn Mẹ nói tới đây là những linh hồn nào, nếu không phải là những kẻ đã chết trong tình trạng có ơn nghĩa Chúa, nhưng chưa đền tội đủ, chưa được tẩy luyện trong sạch. Chúng ta thường gọi thành phần đó là các linh hồn trong chốn luyện tội. Dù luyện tội chỉ là một tình trạng chuyển tiếp, các linh hồn lành thánh phải trải qua trước khi được vào Nước Trời, nhưng sự xa cách Chúa cũng làm cho các linh hồn thấy đau đớn khổ cực hơn bất cứ một hình khổ nào con người có thể tạo ra. Các linh hồn rất mong thời gian tẩy luyện sớm được chấm dứt.
Lời cầu nguyện, các việc lành phúc đức. Nhất là Thánh lễ Misa chúng ta dâng lên Thiên Chúa để đền thay những thiếu sót của các linh hồn sẽ lôi kéo được tình thương của Chúa. Ngàisẽ rút vắn thời gian tẩy luyện cho các linh hồn.
Điều Đức Mẹ mách bảo cho chúng ta, cũng chính là điều Chúa Giêsu lần kia đã dạy Thánh nữ Catarina: “Chúng con có thể thâu ngắn thời gian bị tẩy luyện của các linh hồn... sự quan phòng của Ta là muốn dùng chúng con như kẻ trung gian, chúng con có thể giúp đỡ họ nhờ việc bác ái, ăn chay, kinh nguyện và Thánh Lễ Misa...”
Giáo Hội vì đã thấu hiểu được tầm quan trọng của việc cầu nguyện này nên đã đưa vào phụng vụ một ngày lễ cầu chung cho các tín hữu đã qua đời, ấn định vào mồng 2 tháng 11 hằng năm, ngay sau ngày kính chung các thánh Nam nữ. Lời nguyện trong phần dâng lễ vật đã đề cập rõ đến việc xin Chúa tẩy rửa và đưa các linh hồn về hưởng hoan trên nước hằng sống:
“Lạy Chúa toàn năng và từ bi, nhờ lễ tế này, xin tẩy sạch tội lỗi các tôi tớ Chúa đã qua đời, trong Máu Thánh Chúa Kitô, để những người Chúa đã rửa trong nước rửa tội thì Chúa cũng tiếp tục thanh tẩy họ nhờ lượng khoan hồng từ bi của Chúa.”
Hiểu biết mối quan tâm của Đức Mẹ đối với hạnh phúc trường cửu của chúng ta, sự giải thoát các linh hồn luyện ngục khỏi mọi hình khổ, chúng ta hãy kiểm điểm lại chính thái độ của chúng ta đối với đời sống siêu nhiên và lòng hiếu thảo bác ái đối với những người quá cố. Hãy cải thiện, xa lánh tội lỗi là nguyên nhân làm mất hạnh phúc thiên đàng của chúng ta. Hãy năng dâng lễ, cầu nguyện và gia tăng các việc lành cầu cho những linh hồn chúng ta thương mến để Chúa thương đưa về quê hương vĩnh cửu dọn đón chúng ta sau này. (NSTTĐM).

27. GIUSE LABRE
Joseph Labre sinh năm 1748 tại Amet nước Pháp, có lòng yêu mến Đức Mẹ và lòng thương người từ nhỏ. Lên 22 tuổi Labre sang Ý viếng đến đền thờ Đức Mẹ ở Laureta, tại đây Labre được ơn soi sáng bỏ hết mọi của cải làm phúc cho kẻ kh
ó rồi đi viếng các thánh đường Đức Mẹ có tiếng khắp thế giới, dọc đường chàng ăn năn hãm mình, mặc áo thô, đi xin của bố thí.
Sau 5 năm đi viếng các thánh đường danh tiếng của Mẹ, Labre lại trở về Roma và ở lại đó 8 năm để hãm mình đền tội và tôn kính Mẹ Maria hơn. Có nhiều lần Labre quỳ trước tòa Mẹ suốt đêm bất động, Labre luôn vui chịu khinh chê xỉ nhục cách bằng lòng. Một hôm có người bố thí cho Labre mấy đồng, Labre liền đem đi cho kẻ khó, tức thì người cho của nổi giận, sẵn gậy đánh cho Labre mấy hèo. Labre vui chịu, lần khác một lũ trẻ vô phép xúc phạm đến hài cốt các Thánh, Labre đến căn ngăn liền bị chúng cho căn đá cuội, may có người đi qua can thiệp kịp. Năm 1738, Labre bệnh liệt vì hãm mình quá sức, nhưng càng thấy mình gần chết, Labre càng cố gắng hãm mình, tăng bội tình yêu Mẹ. Thứ tư Tuần Thánh, Labre đi dự lễ ở nhà thờ Đức Mẹ trên núi và ở lại đọc kinh cho đến trưa, rồi ra về, vừa bước qua cửa nhà thờ, Labre té xỉu. Lúc linh mục đến xức dầu và giáo dân đọc kinh cầu Đức Mẹ đến câu "Rất thánh Đức Mẹ, cầu cho Labre" thì linh hồn chàng lài xác trong cái tuổi 35. Cùng một lúc, bỗng nhiên trẻ con trong phố xá chung quanh kêu to: "Đấng thánh đã chết".
Sau khi chết, Labre đã làm nhiều phép lạ chữa nhiều bệnh nhân. Xác chàng được đặt trong đền thờ Đức Mẹ trên núi bốn ngày cho giáo dân kính viếng và cầu xin, rồi táng dưới chân bàn thờ Đức Mẹ. Từ đó đến nay, nơi mồ Thánh nhân hằng có phép lạ.

28. HAI KẺ ĂN XIN LẠ
Sinh trong một gia đình nghèo khó trong làng Paradi gần thành Florentia, vô Domenica từ nhỏ đã biết phụng sự Mẹ Thiên Chúa, cô giữ chay hết mọi ngày trong tuần, riêng thứ bảy cô nhịn cơm để đem giúp kẻ nghèo, rồi ra đồng
hái hết những bông hoa cô gặp về dâng cho tượng Mẹ ẵm Chúa Hài Nhi trưng bày ở nhà cô.
Một lần vào hồi 10 tuổi, cô đứng tại cửa sổ nhìn ra phố, thấy một bà nhan sắc bế em bé. Em này giơ 2 tay xin của bố thí. Cô liền chạy tìm bánh để cho. Bỗng cửa chưa mở mà đã thấy hai Mẹ Con bà tiến vào đứng bên mình. Thấy chân tay và ngực em bé đầy vết thương, cô hỏi bà mẹ:
- Ai làm khổ em bé thế này, bà?
Tình yêu đáy cô ạ.
Say mê vẻ đẹp ngây thơ của em bé, cô hỏi em các vết thương đó có đau không, nhưng em chỉ cười trừ. Lúc đó cả ba đều đứng trước tượng Mẹ ẵm Chúa. Bà Mẹ nói với cô:
- Ai bảo cô đem hoa kết vòng đội cho tượng Mẹ đây?
- Thưa lòng yêu mến Đức Mẹ thúc giục con ạ.
- Cô yêu mến Đức Mẹ bao nhiêu?
Thưa hết sức có thể.
- Cô có thể được bằng nào?
- Bằng ân sủng Chúa, Mẹ ban cho con ạ.
- Vậy cô cứ tiếp tục mến như thế nhé, Chúa và Mẹ sẽ thưởng cô trên trời.
Ngửi thấy một mùi thơm toả lan xông từ vết thương em bé, cô hỏi bà mẹ bôi dầu gì cho em, và dầu đã mua ở đâu?
- Dầu này phải mua bằng Đức Tin và các việc lành, bà mẹ em bé đáp.
Cô Domenica biếu em bé một khúc bánh, bà mẹ bảo cô:
- Bánh nuôi con tôi phải là lòng yêu mến. Cô cứ nói với con tôi rằng: Cô yêu mến Chúa Giêsu là con tôi thích lắm.
Nghe nói đến tình yêu, em nhỏ hớn hở vui cười hỏi cô:
- Cô yêu mến Chúa Giêsu bằng nào?
Cô nói rằng ngày đêm chỉ mơ tưởng đến Chúa và yêu Chúa.
- Được lắm, em bé nói, cô cứ yêu Chúa mãi, tình yêu sẽ dạy cô biết phải làm gì để làm vui lòng Chúa.
Nhưng vết thương càng toả mùi thơm tho, cô Domenica hớn hở kêu to:
- Chúa ơi! hương thơm yêu đương quá làm con chết mất! Thích quá, được ở bên em bé này, có phải thiên đàng đây không?
Bỗng dưng quang cảnh đổi hẳn. Bà mẹ biến thành vị Nữ Vương, trang phục lộn lẫy, và em bé rực rỡ như thái dương lấy hoa trên tường rắc trên đầu cô Domenica. Nhận ra chính là Chúa Giêsu và Đức Mẹ, cô bèn sấp mình dưới chân Chúa và Mẹ. Và rồi hiện tượng biến mất.
Sau đó cô Domenica đã vào dòng Đaminh và chết trong hương thơm thánh đức năm 1553, tại Florentia, trong tu viện Thánh Gia mà chính cô đã thiết lập.

29. MẸ GẬT ĐẦU
Trong lịch sử dòng Đaminh có ghi lại một tích chuyện tỏ ra Đức Mẹ thương yêu, bang trợ những con cái Đức mẹ là các thầy dòng Đaminh:
Tại Balê, có một bà quí phái đã giúp công của trong việc xây cất tu viện Đaminh, mệnh danh là
Nhà Dòng Thánh Giacôbê. Khi tu viện đã hoàn thành, bà thường đến thông công với các thầy trong khi nguyện kinh Thần vụ, nhất là khi hát kinh Lạy Nữ Vương trước khi ngủ đêm. Muốn tỏ ra mình thương yêu con cái và trả công cho vị ân nhân, một tối kia, đang khi các tu sĩ hát kinh Lạy Nữ Vương, Đức Mẹ thân hiện ra cho bà quí phái xem thấy cử chỉ, nét mặt nhân từ của Người khi các tu sĩ xưng hô Người là Nữ Vương nhân lành...
Khi đến câu: "Chúng tôi con cháu Evà ở chốn lưu đầy, kêu đến cùng bà..." thì Đức Mẹ đặt Chúa Giêsu trên bàn thờ, sấp mình xuống đất cầu xin cho các tu sĩ. Khi hát câu: "Xin ghé mặt thương xem chúng tôi đến sau khỏi đầy" thì Đức Mẹ chỗi dậy âu yếm các tu sĩ đang đứng như thầm bảo họ: "Các con hãy xem, này là con Mẹ yêu dấu, các con hãy chiêm ngưỡng tôn nhan Người ở đời này, nhất là đời sau trên Thiên đàng." Khi hát câu: "Ôi khoan thay, nhân thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh..." thì Đức Mẹ mỉm cười, gật đầu tỏ ý hài lòng và biến đi.
Đến sau, vị ân nhân đó thuật lại chuyện đã mắt thấy tai nghe để kích thích các tu sĩ Đaminh tăng bội tình yêu đối với Đức Mẹ.
Sau khi điều tra kỹ lưỡng, hội đồng chi dòng đã truyền ghi tích lạ đó vào lịch sử dòng để các phần tử dòng muôn đời ghi nhớ và thêm lòng kính mến Đức Mẹ, cậy trông vào Đức Mẹ, Đấng đã bảo vệ dòng từ buổi phôi thai.

30. CỖ TRÀNG HẠT CỦA TÔI
Ông Francois Vaudelnay kể chuyện rằng: Hồi ấy, tôi đang nghỉ hè tại Arcanbon, nước Pháp. Tôi thuê một chiếc cano cùng người lái thuyền chạy cho vui trong eo vịnh lúc chiều tà, Tình cờ trong lúc rút khăn trong túi ra, tôi đánh rớt cỗ tràng hạt mà mẹ tôi đã bỏ vảo lúc người sửa soạn đồ đạc cho tôi. Ông thủy thủ già nhìn thấy bảo : "Kìa, coi chừng cậu đánh rơi cái gì trên miệng túi áo đó". Tôi ngượng ngùng vội vã nhét cỗ tràng hạt vào túi, len lén nhìn ông, chỉ sợ ông chê cười.
Năm đó tôi lên 16 tuổi, tôi thấy thẹn thùng khi mình lớn rồi mà còn mang cái thứ đồ đạo, cái thứ chỉ có tụi con gái mới mang thôi. Nhưng ông mỉm cười nhìn tôi thẹn mặt mà nói rằng : "Cỗ tràng hạt của cậu đẹp lắm, nhưng nó bằng hạt đá dễ bể lắm. Không bền bằng cỗ tràng hạt của tôi". Rồi ông đưa tay rút ra trong túi áo một cỗ tràng hạt cũ kỹ, hạt xám hạt đen đã phai màu. Sợi dây hoen dỉ và có chỗ bị đứt, được nối lại bằng dây chỉ. Trên cỗ tràng hạt có mắt 4, 5 mẫu ảnh và một tượng Thánh Giá bằng nhôm. Ông trịnh trọng giơ lên cho tôi coi và nói :
- "Chà ! Sợi dây đã dỉ hết, vì không khí nước biển, và cũng tại tay tôi xù xì không được mịn màng như tay cậu. Nhưng nhất định tôi không đổi nó cho ai, dù để lấy một cỗ tràng hạt bằng vàng, bằng bạc, vì từ đó nó sẽ không còn là cỗ tràng hạt của tôi nữa. Tôi có nó từ 34 năm nay, lúc rước lễ lần đầu, mẹ tôi làm quà kỉ niệm cho tôi đấy. Tôi quen thuộc từng hạt một. Mỗi lần đau ốm, mẹ lại hỏi mượn tôi để cầm. Mẹ tôi thích thế, và lúc hấp hối, mẹ cũng cầm nó trong tay. Biết bao kỷ niệm trên cỗ tràng hạt này. Đây, cậu thấy không, tượng Thánh Giá này là của vợ tôi mua tặng tôi khi đính hôn. Ảnh vẩy này là do anh tôi tặng khi Thêm Sức, còn ảnh này do mẹ đỡ đầu cho tôi. Chỗ đứt được nối lại là do thằng con thứ của tôi, hôm vợ tôi đeo cho nó khi nó bị bệnh nặng tưởng chết. Đức Mẹ đã cứu nó. Vì thế, ngày ngày mỗi khi lần chuỗi hạt đến chỗ đứt ấy, thì kinh Kính Mừng tôi đọc có vẻ sốt sáng hơn.... Cậu có biết không ? Cỗ tràng hạt này đã theo tôi đi Lộ Đức cách đây 5 năm, đã chạm vào núi đá nơi Đức Mẹ hiện ra.... Biết bao kỷ niệm.... Khi chết, tôi sẽ xin người ta đeo vào cổ cho tôi".
Sau khi nghe hết tâm sự của ông, tôi xúc động đến lạnh người, và sau khi về nhà, tôi mua một cỗ tràng hạt khác chắc chắn hơn. Từ đó đến nay cũng như ông, tôi đã lần hạt với cỗ tràng hạt của tôi và quyết định, khi chết tôi cũng xin người ta mang vào cổ tôi để sang đời vĩnh cửu.

31. MẠC KHẢI CỦA ĐỨC MẸ VỀ HIỆN TƯỢNG 3 NGÀY TỐI TĂM
Người được cho là Đức Mẹ đã ban cho sứ điệp về hiện tượng ba ngày tối tăm là một tu sĩ dòng Phanxico, thày David Lopez. Thày sống tại biên giới Mỹ và Mễ Tây Cơ, trong tu viện khổ hạnh Đức Mẹ Từ Bi tại một thôn nhỏ có tên El Ranchilo
Mặc dù bị chứng bệnh tê liệt bộ não, khiến thày đi đứng rất khó khăn, nhưng thày vẫn cố gắng điều hành một trại cứu tế nhỏ ở đó, để giúp đỡ phương tiện cần như nơi cư trú, thức ăn, thuốc cũng như nhu cầu tinh thần cho những người nước ngoài.
Thày David Lopez đã vài lần hành hương tới Medjugorje, và tại đây, thày đã được Đức Mẹ ban cho một sứ điệp liên quan tới hiện tượng tối ba ngày ba đêm sẽ xảy ra trên thế giới.
Nhận sứ điệp từ Đức Mẹ đã lâu, nhưng thày cảm thấy không thoải mái khi phải công bố sứ điệp này. Thày đã trình bày với cha linh hướng, và ngài bảo thày cứ viết ra như Đức Mẹ đã ban, nhưng thày vẫn chưa chịu thực hiện lời đề nghị này.
Vào lúc 11.40 sáng ngày 11.9.1987, trong khi đang cầu nguyện bằng kinh Mân Côi trước ảnh Đức Mẹ Guadalupe ở San Antonio, Texas, thì ảnh Đức Mẹ tự nhiên trở nên sống động như người thật. Đức Mẹ tiết lộ cho thày một vài điều riêng, liên quan tới các bạn của thày. Sau đó, Đức Mẹ thúc dục thày hãy viết ra sứ điệp mà Người đã ban. Thày kể:
Đức Mẹ nói với tôi, ‘Mẹ muốn con viết ra sứ điệp mà Mẹ đã ban cho con ở Medjugorje trước khi con quên, rồi hãy đem tới cho Đức Giám Mục để được xác nhận’. Tôi nghĩ, nếu những điều Đức Mẹ nói với tôi về các bạn tôi là đúng, thì tôi mới viết ra. Nếu không đúng, tôi sẽ không viết. Khi nói chuyện với các bạn tôi, tôi thấy mọi sự đã xảy ra y như Đức Mẹ đã nói trước. Do đó, tôi không còn lý do để thoái thác. Tôi quyết định viết.
“Hai tuần lễ sau, tôi tới gặp Đức Giám Mục Fitzpatrick cai quản giáo phận Brownsville, Taxas [nay ngài đã về hưu] và trao cho ngài nội dung sứ điệp mà tôi đã viết, với ý nghĩ ngài sẽ không tin và sẽ không chuẩn nhận. Nhưng điều tôi nghĩ đã không xảy ra. Đức Giám Mục nói với tôi: ‘David à, những lời này không mới mẻ gì. Sứ điệp này không phải của riêng con để con giữ kín. Sứ điệp là cho toàn thế giới. Và cha không cấm con phổ biến sứ điệp này, nhưng con nên thận trọng, vì không phải mọi người đều muốn chấp nhận và muốn hiểu đâu. Cha không thấy có sai lầm nào về giáo lý, tu đức hoặc luân lý nơi những lời này cả”. (Thày David nói Đức Giám Mục Fitzpatrick không cho lời xác nhận chính thức đối với sứ điệp này).
Dưới đây là nguyên văn bài viết của tu sĩ David Lopez, dòng Phanxico:
“Đừng sợ về ba ngày tối tăm sẽ đến trên trái đất, vì những ai sống sứ điệp của Mẹ, và có đời sống nội tâm cầu nguyện, sẽ được Mẹ cảnh giác trước từ ba ngày cho tới một tuần trước khi nó xảy ra. Các con của Mẹ phải không ngừng sám hối tội lỗi của mình và cầu nguyện nhiều hơn như Mẹ đã xin. Họ nên có nước phép và ảnh tượng đã được làm phép và đặc biệt tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giesu và luôn có đèn sáng trước ảnh tượng Ngài. Họ phải có đời sống đạo căn bản và đừng gắn bó quá đối với của cải vật chất. Các Linh Mục không được chỉ lo đến đời sống nội tâm cầu nguyện của riêng mình, nhưng còn phải phát triển đời sống nội tâm cầu nguyện của các giáo xứ của các ngài nữa. Cũng thế, họ nên tránh xa bất cứ ai nói đến làm cách mạng hay nổi loạn. Những người nói về cách mạng và nổi loạn là đệ tử của tên Phản Kytô. Mẹ buồn cho giới tu trì Tây phương, họ đã từ bỏ các dấu chỉ tận hiến của họ. Nhất là họ sẽ bị Satan cám dỗ và không thể chống cưỡng nổi những cám dỗ của thể xác và tinh thần. Họ phải trở về với đời sống thánh thiện và tùng phục Chúa Kytô Con Mẹ. Đừng sợ bất cứ sự gì hay bất cứ ai. Hãy múc đầy tình yêu Thiên Chúa qua cầu nguyện, đọc Kinh Thánh và lãnh nhận các Bí Tích. Mẹ sẽ ở với các con trong thời điểm thống khổ, và các con của Mẹ sẽ kêu cầu Mẹ ban cho nơi trú ngụ an toàn.
Những ai chiến đấu để thắng vượt xu hướng phạm tội trở lại sẽ không thất vọng vì Thiên Chúa sẽ chuẩn nhận thiện tâm và mong muốn thắng vượt tội lỗi của họ. Hãy có Bình An của Thiên Chúa.
“Sẽ không còn một tên quỉ nào ở trong địa ngục trong thời gian ba ngày tối tăm. Tất cả sẽ lên tràn mặt đất. Ba ngày đó sẽ trở nên thật tối tăm đến nỗi dù để tay ra trước mặt, chúng ta cũng sẽ không thể nhìn thấy được.
“Trong những ngày này, những ai không sống trong ân nghĩa Thiên Chúa sẽ chết vì sợ hãi, vì họ sẽ nhìn thấy những hình ảnh ma quỉ ghê rợn. Đức Trinh Nữ bảo tôi hãy đóng kín các cửa lớn và cửa sổ lại, và đừng trả lời bất cứ ai gọi từ bên ngoài. Cám dỗ nặng nề nhất cho chúng ta là ma quỉ sẽ giả giọng những người thân yêu để kêu gọi chúng ta. Đức Mẹ nói với tôi; ‘xin đừng để ý tới tiếng gọi đó, vì đó không phải là người thân yêu của chúng ta, mà là ma quỉ muốn tìm cách dụ chúng ta ra ngoài mà thôi.
“Đức Mẹ nói với tôi rằng, Thiên Chúa đã tuyển chọn một số người, họ sẽ là những vị tử đạo vào giai đoạn bắt đầu của hiện tượng tối ba ngày, nhưng họ không nên sợ hãi, vì Thiên Chúa sẽ ban cho họ sự bền chí, và sau khi chịu tử đạo, các Thiên Thần sẽ xuống đưa cả hồn và xác họ lên Thiên Đàng. Đức Mẹ nhấn mạnh rằng, chúng ta hãy cầu cùng Chúa để những ngày này đừng xảy ra vào mùa Đông, và đừng có người nữ nào sanh con, vì nếu nó xảy ra vào mùa Đông, thời tiết sẽ trở nên rất lạnh, sẽ không có bất cứ sức nóng nhân tạo nào, và các phụ nữ sinh con sẽ không được sự trợ giúp nào của y khoa”.
“Đức Mẹ nói với tôi rằng thời gian tối tăm sẽ kéo dài đúng 72 giờ, và phương cách duy nhất để tính giờ là những động hồ chạy bằng máy móc, vì lúc đó sẽ không có điện. Sau thời kỳ thanh tảy sẽ là mùa Xuân. Mọi sự sẽ xanh tốt và mọi sự sẽ nên tinh sạch. Nước sẽ trong như pha lê, ngay cả nước trong các vòi trong nhà. Nước sẽ không bị ô nhiễm, không khí và sông ngòi cũng thế.
“Đức Mẹ ban cho tôi hai ơn và tôi không được tiết lộ cho bất cứ ai. Người cũng phán với tôi: 'Người ta không nên tìm các dấu chỉ và đừng phí phạm thời giờ đề cố gắng tính ra ngày tháng'. Đức Mẹ nói với tôi điều này vì Người nói có một người đã dám xác định rõ ngày xảy ra hiện tượng tối tăm ba ngày ba đêm. Khi tôi hỏi Đức Mẹ về các lời tiên tri, Đức Mẹ chỉ trả lời, “hãy cẩn thận đối với những người xác định rõ ngày tháng”. Chúng ta không nên quan tâm quá về ngày tháng. Nếu mà chúng ta biết được ngày tháng, lúc đó người ta chỉ chờ đợi ngày tháng, và không trở về vì lòng yêu mến Thiên Chúa.
“Điều đẹp đẽ nhất là người ta sống trên mặt đất và làm việc không phải chỉ để sinh tồn, mà còn vì tình yêu thương và để giúp đỡ lẫn nhau.
“Cách quan trọng nhất để đem lại sự thay đổi này là bây giờ hãy sống đời sám hối và bác ái. Hãy luôn sống trong tình trạng ơn thánh. Điều quan trọng là xây dựng những cộng đồng tương thân tương ái, nơi chúng ta có thể giúp đỡ các anh em của chúng ta. Những ngày tối tăm sẽ trở nên rất khó khăn cho những người ở một mình, và cho những cha mẹ có con cái đã trưởng thành, bởi vì họ sẽ nghe thấy tiếng của những người thân yêu của họ ở bên ngoài.
Các bậc cha mẹ trong gia đình, nhất là người cha, phải dạy cho các con cái của họ cầu nguyện. Trong những ngày giờ tối tăm, lời cầu nguyện của các em nhỏ sẽ rất có hiệu lực”.
“Đức Mẹ muốn thêm vào sứ điệp này những lời nhắn nhủ với các Linh Mục. Các Linh Mục có trách nhiệm nói về sự kiện này cho giáo dân trong giáo xứ của các ngài, để giúp họ được vững mạnh và biết trở lại, cũng như nói cho Giáo Dân đừng sợ. Các ngài có trách nhiệm truyền bá sứ điệp này, vì sứ điệp này đã được tiết lộ cho nhiều vị thánh, và chúng ta không được phí phạm thời giờ qua việc coi thường nó nữa. Các ngài cần nhấn mạnh cho người ta về nhu cầu sám hối, trở lại cũng như cầu nguyện cùng Chúa Thánh Thần. Các ngài cũng phải dậy họ đừng gắn bó quá với cải cải đời này, với tiền bạc, quyền lực, việc làm v.v vì nhữn thứ này không thực giá trị.
“Cũng thế, các ngài nên dạy người ta biết chuẩn bị cho giờ chết. Thật là quan trọng để dạy người ta về những sự sau cùng của con người: Sự Chết, Phán Xét, Thiên Đàng và Hoả Ngục. Dạy người ta ý thức về tội, nhất là tội trọng với hậu quả rất đáng sợ của nó. Chúa muốn chúng ta trở lại vì lòng yêu mến hơn, nhưng nếu cần thiết thì, vì sợ bị phạt. Tuy nhiên, Ngài chấp nhận mọi lý do của sự trở lại, và sẽ tiếp nhận chúng ta, vì Ngài yêu chúng ta và muốn chúng ta được cứu rỗi. Vì yêu hay vì sợ, chỉ có điều là chúng ta dâng mình chúng ta cho Ngài. Trách nhiệm của các Linh Mục là hướng dẫn người ta, nhất là qua đời sống gương mẫu của các ngài và qua việc trọn vẹn dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa”.
Đó là sứ điệp Đức Mẹ ban cho Tu Sĩ David Lopez. Dưới đây chúng tôi xin trích dịch một số sứ điệp mà Chúa hoặc Đức Mẹ ban cho các vị thánh và người những thánh thiện:
*** Đấng đáng kính Gaspar Del Bufalo (thế kỷ 19): “Những người bách hại Giáo Hội mà không chịu hối cải sẽ bị chết khi trái đất xảy ra hiện tượng ba ngày tối tăm…”.
*** Chân phước Mary of Jesus Crucified: “Trong ba ngày tối tăm, những người đi theo ma quỉ sẽ bị diệt vong, để chỉ còn ¼ nhân loại sống xót…”.
*** Đấng đáng kính Anna Maria Taigi: “Thiên Chúa sẽ gửi đến hai hình phạt: Một dưới hình thức chiến tranh, cách mạng và những sự dữ khác; Hình phạt thứ hai đến từ Trời, toàn thể trái đất sẽ bị bao phủ bởi sự tối tăm dày đặc kéo dài ba ngày ba đêm. Người ta không thể nhìn thấy sự gì. Các phương tiện trần gian không thể làm ra ánh sáng, trừ nến đã được làm phép. Ai vì tò mò mà mở cửa nhìn ra ngoài, sẽ bị chết ngay. Trong thời gian tối ba ngày, người ta hãy ở trong nhà cầu nguyện bằng kinh Mân Côi và kêu xin lòng thương xót Thiên Chúa. Tất cả kẻ thù của Giáo Hội, biết hay không được biết đến, sẽ bị hủy diệt…”
*** Marie de la Fraudais (thế kỷ 19): “Sẽ xảy ra ba ngày hoàn toàn tối tăm. Chỉ có nến làm bằng sáp được làm phép mới có thể cho chút ánh sáng trong những ngày tối tăm kinh khủng này. Nhưng nó sẽ không sáng nơi những nhà vô đạo. Sấm chớp sẽ thâm nhập vào trong nhà, nhưng không làm tắt được nến phép, cho dù cả gió, bão và động đất. Những đám mây đỏ như máu sẽ vần chuyển trên bầu trời, và những cơn sấm gầm chớp dật sẽ làm rung chuyển đến tận trung tâm trái đất. Các cơn sóng thần khổng lồ sẽ từ đại dương tràn vào mặt đất, biến mặt đất trở thành nghĩa địa khổng lồ…”
*** Julka Zagreb: “Một luồng gió nóng sẽ đến từ phía Nam. Nó sẽ bao phủ trên toàn địa cầu và tạo nên những cơn bão khủng khiếp. Sau đó, lập tức có khoảng mười tiếng sấm xét đánh trên trái đất với sức mạnh đến nỗi nó làm rung chuyển mọi nơi. Đây là dấu hiệu cho biết sự đau khổ lớn lao và bóng tối đen kịt được bắt đầu. Những sự này sẽ kéo dài ba ngày ba đêm. Người ta hãy ở trong nhà, đóng kín miệng giếng và các cửa. Hãy dùng nước phép để làm phép cho chính mình và nhà, cũng như đốt nến đã được làm phép lên. Bên ngoài sẽ xảy ra những điều ghê sợ. Ai liều nhìn ra ngoài sẽ bị chết. Tất cả quỉ dữ sẽ lên hết trên mặt đất, để chúng có thể tiêu diệt các nạn nhân. Quỉ dữ sẽ kêu gào trên trái đất và gọi nhiều người để tiêu diệt họ. Tại sao? Chúng giả giọng những người thân và quen biết, những người chưa tới được nơi an toàn hơn. Một khi sự khủng khiếp bắt đầu xảy ra, đừng mở cửa cho bất cứ ai…”
*** Christina Gallagher: “Hỡi con nhỏ của Cha, tối nay Cha mời con viết. Đừng sợ. Cha ban Bình An của Cha cho con. Hãy nói cho toàn thể nhân loại hãy tự chuẩn bị; Thời giờ đã đến để làm sạch toàn thể nhân loại. Sự tối tăm lớn lao sẽ đến trên thế giới. Bầu trời sẽ rung chuyển…Quỉ dữ sẽ nổi điên trên thế giới. Chúng sẽ được thả ra từ địa ngục. Hãy nhắc cho nhân loại về Dấu Ấn thứ Bảy của Thiên Chúa”.
*** Patricia Talbot: “Trái đất sẽ vuột ra khỏi quĩ đạo của nó trong ba ngày”.
Chúng tôi cũng đề nghị các bạn tìm đọc trong Kinh Thánh để hiểu thêm, chẳng hạn: Mt. 24:29; Mc 13; Lc 21; Kh. 16:10-11; Xh. 10:21-23 .v.v.

32. HIỆU LỰC LỜI CẦU NGUYỆN
Cha Phêrô Bouchange kể chuyện chính cha đã mục kích: Một mụ đàn bà có chuyện xích mích với anh ruột thành cãi lộn nhau đến nỗi sinh thù oán không sao làm hòa được, đến nỗi mụ nghỉ luôn cả kinh hạt, lễ lạy và chịu các Bí Tích. Ai khuyên bảo cũng vô ích, mụ nhất định không làm hòa. Bất ngờ mụ lâm trọng bệnh cửu tử nhất sinh. Cha Bouchange đến khuyên mụ làm hòa để dọn mình chết, nhưng vô ích. Mụ còn đanh đá: Tôi muốn rằng, sau khi chết, hãy ghi khắc trên mộ tôi câu "con mẹ này quyết trả thù". Khi nhắc đến hỏa ngục, mụ the thé: "Hỏa ngục hả, khi nghĩ đến trả thù cho được, thì tôi đã thỏa mãn trước mọi hình phạt phải chịu rồi!" Cha khuyên mụ cầu nguyện, mụ bắt đầu trả lời:"Tôi biết, nếu tôi cầu xin sẽ được Chúa nhận lời, nhưng tôi không thèm cầu xin".
Cha liền quì gối bên giường mụ, kéo một mẫu ảnh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp bỏ trong sách nguyện ra, đặt vào giữa hai bàn tay mụ rồi sốt sắng đọc thong thả kinh Kính Mừng. Lạ lùng thay, khi cha vừa đọc tên Maria, mụ tội nhân trả lời: "Thôi cha đừng đọc thêm nữa. Con sẵn sàng tha thứ cho nó . Xin Cha ban phép giải tội cho con". Sau khi cha xá giải mọi tội lỗi cho mụ, cha cùng mụ đọc kinh Kính Mừng. Mặt mụ tươi sáng và chết cách êm ái trong tay Ðức Mẹ.

33. SÁNG TRONG HANG
Năm 890, đời ông Godefroy Peloi làm thủ hiến xứ Barcelone nước Tây-ban-nha, theo lời ông Locrio kể lại có bốn mục đồng chăn chiên trên dẫy núi Sarrat. Một ngày thứ Bảy, ban chiều, lúc mặt trời xế bóng, chúng hết sức bỡ ngỡ
nhìn theo tia hào quang sáng rực từ trời chiếu vào hang rộng, đồng thời nghe văng vẳng tiếng hát du dương đâu đây. Chúng liền chạy khắp vùng để đưa tin.
Nghe đồn tin lạ, thiên hạ nô nức lên xem chật ních hang. Thứ Bảy sau, lúc mặt trời lặn hang lại lóe ánh sáng phi thường điểm thêm tiếng hát du dương kỳ diệu.
Ðức Giám Mục thành Barcelone đã thân hành đến tận nơi mục kích. Vào sâu trong hang, Ngài thấy một tượng Ðức Mẹ đã bị bỏ quên từ rất lâu đời. Bỡ ngỡ và cảm động Ngài cung kính ôm lấy tượng với ý định thỉnh về nhà thờ chính tòa, Giáo sĩ và giáo dân tổ chức cung nghinh tượng Mẹ. Nhưng đi được ít bước, như có sức vô hình can ngăn lại, Ðức Cha không thế nào bước đi được. Ngài nhìn nhận do Thiên Ý nên đã đặt tượng Mẹ vào hang, sửa sang sạch sẽ xứng đáng. Rồi thiên hạ đua nhau đến kính viếng và cầu nguyện. Hiện nay nơi đó đã được xây dựng một đền thờ nguy nga, nhiều phép lạ Chúa đã thực hiện tại hang Ðức Mẹ.

34. LẦN HẠT VÌ NỂ
Một thanh niên bị trúng độc, người ta vội đi rước Cha sở. Ðến nơi, chàng vẫn chưa tỉnh, Ngài chỉ ban phép giải tội thiêng liêng thôi. Biết chàng là một thanh niên khô đạo, Cha làm lễ khấn xin Ðức Mẹ cho chàng tỉnh lại và xưng  tội.
Một ít lâu sau, chàng tỉnh lại và Cha đến giải tội, giải tội xong, thấy chàng có vẻ sốt sắng lắm. Lấy làm lạ, Cha hỏi chàng sao đổi lòng chóng như thế thì anh thú rằng:
-Con tin chắc đây là một ơn Ðức Mẹ cầu bầu. Người đã nhậm lời Má con, khi nằm trên giường bệnh sắp chết, Má con gọi con lại mà nói: "Mẹ rất lo ngại cho số phận con, tuổi thanh niên của con đầy gian nguy đe dọa. Thôi, Mẹ giao phó con trong tay Ðức Mẹ. Hỡi con, Mẹ xin nài con một việc sau hết này và cố gắng giữ để chứng tỏ lòng con yêu Mẹ là mỗi ngày con lần một chuỗi hạt kính dâng Ðức Mẹ." Con đã hứa vâng lời và trong suốt 10 năm, cuộc sống đạo của con chỉ thu hẹp vào bấy nhiêu mà thôi nhưng nhờ đó mà Ðức Mẹ đã cho con được hồi tỉnh để xưng tội.

Sưu tầm

CHIA SẺ: BÀI MỚI

GIÁO HỘI: BÀI MỚI

MẸ MARIA - THÁNH GIUSE - CÁC THÁNH: BÀI MỚI

VĂN HÓA: BÀI MỚI

DI CẢO LM. J.H

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Affiliate Network Reviews